Quan Hệ Thương Mại Việt Nam - Trung Quốc: Luận Văn Thạc Sĩ Kinh Tế

Nghiên cứu quan hệ thương mại Việt Nam - Trung Quốc, luận văn thạc sĩ kinh tế mã 60 31 01, phân tích cơ hội và thách thức trong hợp tác kinh tế.

Chuyên ngành

Kinh Tế Quốc Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn

2023

105
6
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

1.1. THUYẾT TỰ DO THƯƠNG MẠI

1.2. LÝ THUYẾT “BÀN TAY VÔ HÌNH” CỦA ADAM SMITH

1.3. LÝ THUYẾT “BÀN TAY HỮU HÌNH” CỦA JONH MAYNARD KEYNES

1.4. LÝ THUYẾT “KINH TẾ HỖN HỢP” CỦA SAMUELSON

1.5. LÝ THUYẾT VỀ LỢI THẾ SO SÁNH TRONG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ

1.6. CHỦ NGHĨA TRỌNG THƯƠNG

1.7. THUYẾT “LỢI ÍCH TUYỆT ĐỐI”CỦA ADAM SMITH (1723 – 1790)

1.8. TƯ TƯỞNG CỦA RICARDO (1772-1823) VỀ LỢI ÍCH SO SÁNH

1.9. ĐỊNH LÝ HECKSCHER - OHLIN

1.10. LÝ THUYẾT THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ TRONG ĐIỀU KIỆN CÁC QUỐC GIA ĐANG PHÁT TRIỂN

1.11. QUAN ĐIỂM CỦA TRUNG QUỐC VỀ NGOẠI THƯƠNG TRONG THỜI KỲ CẢI CÁCH VÀ MỞ CỬA

1.12. CƠ SỞ THỰC TIỄN

1.13. NHỮNG ĐIỀU KIỆN THUẬN LỢI THÚC ĐẨY QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – TRUNG QUỐC

1.14. VỊ TRÍ ĐỊA LÝ

1.15. TÀI NGUYÊN BIỂN

1.16. TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN

1.17. CƠ SỞ THỰC TIỄN THÚC ĐẨY QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM - TRUNG QUỐC

1.18. XU HƯỚNG TOÀN CẦU HÓA, KHU VỰC HÓA KINH TẾ

1.19. CHÍNH SÁCH MỞ CỬA VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM

1.20. CHÍNH SÁCH MỞ CỬA VÀ HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ CỦA TRUNG QUỐC

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – TRUNG QUỐC

2.1. QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA GIỮA HAI NƯỚC

2.2. GIAI ĐOẠN TỪ 1991 - 1995: THỜI KỲ KHỞI ĐỘNG

2.3. GIAI ĐOẠN TỪ 1996 – 2000: THỜI KỲ PHÁT TRIỂN ỔN ĐỊNH

2.4. GIAI ĐOẠN TỪ 2001 ĐẾN NAY: THỜI KỲ HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN MẠNH MẼ

2.5. THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA GIỮA HAI NƯỚC

2.6. KIM NGẠCH XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA

2.7. CƠ CẤU MẶT HÀNG XUẤT NHẬP KHẨU

2.8. CHỦ THỂ THAM GIA XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA

2.9. PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN

2.10. ĐÁNH GIÁ CHUNG THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA GIỮA HAI NƯỚC

2.11. NHỮNG THÀNH TỰU

2.12. NHỮNG HẠN CHẾ

2.13. NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN NHỮNG HẠN CHẾ

3. CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY QUAN HỆ HƯƠNG MẠI HÀNG HÓA VIỆT NAM – TRUNG QUỐC

3.1. BỐI CẢNH MỚI TRONG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – TRUNG QUỐC

3.2. TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM ĐỀU LÀ THÀNH VIÊN CỦA WTO

3.3. TRUNG QUỐC VÀ VIỆT NAM ĐỀU THAM GIA VÀO HỢP TÁC KHU VỰC

3.4. VIỆT NAM VÀ TRUNG QUỐC THAM GIA HỢP TÁC KINH TẾ VÙNG

3.5. MỘT SỐ ĐIỀU CHỈNH VỀ CƠ CHẾ, CHÍNH SÁCH CỦA HAI NƯỚC SAU KHI HAI NƯỚC GIA NHẬP WTO

3.6. VỀ PHÍA TRUNG QUỐC

3.7. VỀ PHÍA VIỆT NAM

3.8. TRIỂN VỌNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – TRUNG QUỐC

3.9. NHỮNG NHÂN TỐ THUẬN LỢI THÚC ĐẨY QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA HAI NƯỚC TRONG THỜI GIAN TỚI

3.10. TRIỂN VỌNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM – TRUNG QUỐC TRONG NHỮNG NĂM TỚI

3.11. NHỮNG GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY QUAN HỆ THƯƠNG MẠI HÀNG HÓA VIỆT NAM-TRUNG QUỐC

3.12. HOÀN THIỆN HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH THƯƠNG MẠI CHO PHÙ HỢP VỚI THÔNG LỆ QUỐC TẾ, TẠO CƠ SỞ PHÁP LÝ CHO VIỆC PHÁT TRIỂN QUAN HỆ THƯƠNG MẠI GIỮA HAI NƯỚC

3.13. NÂNG CAO VAI TRÒ LÃNH ĐẠO ĐỊA PHƯƠNG CỦA HAI NƯỚC

3.14. NÂNG CAO NĂNG LỰC TỔ CHỨC QUẢN LÝ VÀ ĐIỀU HÀNH HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU HÀNG HÓA GIỮA VIỆT NAM VỚI TRUNG QUỐC

3.15. THÚC ĐẨY TIẾN TRÌNH HỢP TÁC XÂY DỰNG “HAI HÀNH LANG VÀ MỘT VÀNH ĐAI KINH TẾ”

3.16. TĂNG CƯỜNG XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG THƯƠNG MẠI TẠI CÁC CỬA KHẨU VÀ TRÊN TOÀN TUYẾN BIÊN GIỚI PHÍA BẮC

3.17. TĂNG CƯỜNG PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG CHỢ BIÊN GIỚI VÀ QUẢN LÝ VIỆC MUA BÁN, TRAO ĐỔI HÀNG HOÁ TẠI CÁC CHỢ BIÊN GIỚI

3.18. HOÀN THIỆN THỦ TỤC THANH TOÁN QUA NGÂN HÀNG Ở KHU VỰC BIÊN GIỚI

3.19. TĂNG CƯỜNG CÔNG TÁC ĐẤU TRANH CHỐNG BUÔN LẬU VÀ GIAN LẬN THƯƠNG MẠI

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Quan Hệ Thương Mại Việt Nam Trung Quốc

Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ vào năm 1991. Sự gia tăng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nước đã tạo ra nhiều cơ hội cho cả hai bên. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, vẫn còn nhiều thách thức cần phải giải quyết để phát triển bền vững.

1.1. Lịch Sử Phát Triển Quan Hệ Thương Mại

Từ năm 1991, kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc đã tăng trưởng mạnh mẽ, từ 37,7 triệu USD lên 15.559 triệu USD vào năm 2007. Sự phát triển này phản ánh sự hợp tác chặt chẽ giữa hai nước trong lĩnh vực thương mại.

1.2. Các Hiệp Định Thương Mại Quan Trọng

Nhiều hiệp định thương mại đã được ký kết, như Hiệp định thương mại năm 1991 và Hiệp định hợp tác kinh tế kỹ thuật năm 1992, tạo cơ sở pháp lý cho sự phát triển quan hệ thương mại giữa hai nước.

II. Cơ Hội Đầu Tư Giữa Việt Nam Trung Quốc Tiềm Năng và Thực Tế

Việt Nam và Trung Quốc đều có nhiều cơ hội đầu tư hấp dẫn, nhờ vào vị trí địa lý thuận lợi và nguồn tài nguyên phong phú. Tuy nhiên, việc khai thác các cơ hội này còn gặp nhiều khó khăn do chính sách và quy định khác nhau.

2.1. Tiềm Năng Đầu Tư Từ Trung Quốc

Trung Quốc là một trong những nhà đầu tư lớn nhất vào Việt Nam, với nhiều dự án đầu tư trong các lĩnh vực như hạ tầng, công nghiệp và nông nghiệp. Điều này tạo ra nhiều cơ hội việc làm và phát triển kinh tế cho Việt Nam.

2.2. Thách Thức Trong Đầu Tư

Mặc dù có nhiều cơ hội, nhưng các nhà đầu tư Việt Nam vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức như sự cạnh tranh gay gắt từ hàng hóa Trung Quốc và các quy định pháp lý phức tạp.

III. Thách Thức Trong Quan Hệ Thương Mại Việt Nam Trung Quốc

Mặc dù quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc đã phát triển mạnh mẽ, nhưng vẫn còn nhiều thách thức lớn cần phải giải quyết. Những thách thức này không chỉ ảnh hưởng đến thương mại mà còn đến sự phát triển kinh tế của cả hai nước.

3.1. Thâm Hụt Thương Mại Của Việt Nam

Việt Nam đang phải đối mặt với thâm hụt thương mại lớn với Trung Quốc, điều này gây áp lực lên nền kinh tế và yêu cầu các giải pháp hiệu quả để cân bằng thương mại.

3.2. Cạnh Tranh Hàng Hóa

Sự cạnh tranh giữa hàng hóa Việt Nam và hàng hóa Trung Quốc ngày càng gay gắt, đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải nâng cao chất lượng sản phẩm và cải thiện chiến lược tiếp thị.

IV. Giải Pháp Thúc Đẩy Quan Hệ Thương Mại Việt Nam Trung Quốc

Để phát triển quan hệ thương mại bền vững, cần có những giải pháp cụ thể nhằm thúc đẩy hợp tác giữa hai nước. Các giải pháp này không chỉ giúp tăng cường thương mại mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.

4.1. Cải Thiện Chính Sách Thương Mại

Cần hoàn thiện hệ thống chính sách thương mại để tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp Việt Nam trong việc xuất khẩu hàng hóa sang Trung Quốc.

4.2. Tăng Cường Hợp Tác Kinh Tế

Việc tăng cường hợp tác kinh tế giữa hai nước sẽ giúp mở rộng thị trường và tạo ra nhiều cơ hội đầu tư mới cho cả hai bên.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn Trong Quan Hệ Thương Mại Việt Nam Trung Quốc

Các nghiên cứu và thực tiễn trong quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc đã chỉ ra nhiều bài học quý giá. Những bài học này có thể được áp dụng để cải thiện quan hệ thương mại trong tương lai.

5.1. Kinh Nghiệm Từ Các Doanh Nghiệp

Nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã thành công trong việc xuất khẩu hàng hóa sang Trung Quốc, nhờ vào việc áp dụng các chiến lược marketing hiệu quả và nâng cao chất lượng sản phẩm.

5.2. Bài Học Từ Các Thách Thức

Các thách thức trong quan hệ thương mại đã giúp các doanh nghiệp Việt Nam nhận thức rõ hơn về nhu cầu cải tiến và đổi mới để cạnh tranh hiệu quả hơn.

VI. Kết Luận Tương Lai Quan Hệ Thương Mại Việt Nam Trung Quốc

Tương lai của quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc phụ thuộc vào khả năng giải quyết các thách thức hiện tại và khai thác các cơ hội mới. Sự hợp tác chặt chẽ giữa hai nước sẽ là yếu tố quyết định cho sự phát triển bền vững trong tương lai.

6.1. Triển Vọng Phát Triển Quan Hệ

Với những chính sách hợp tác và phát triển bền vững, quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc có thể đạt được nhiều thành tựu mới trong tương lai.

6.2. Định Hướng Chiến Lược Thương Mại

Cần có một định hướng chiến lược rõ ràng để phát triển quan hệ thương mại, từ đó nâng cao vị thế của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.

25/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 1. Thuyết tự do thương mại Ra đời vào khoảng nửa cuối thế kỷ XVIII, thuyết Tự do thương mại phát triển thịnh hành vào thế kỷ XIX trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất tại Tây Âu và Bắc Mỹ. Đây là thời kỳ chủ nghĩa tư bản bắt đầu bành trướng kinh tế ra bên ngoài, tăng cường khai thác thuộc địa và trao đổi thương mại giữa các nước tư bản với nhau. Vào cuối thế kỷ XVIII, nhờ cuộc cách mạng công nghiệp và kết quả tích lũy tư bản ở giai đoạn trước qua chính sách Trọng thương, nước Anh đã xây dựng được một nền công nghiệp có khả năng cạnh tranh cao hơn so với hai đối thủ chính là Pháp và Phổ.

Thị trường Anh và các nước thuộc địa không đủ sức tiêu thụ hàng hóa của Anh đang trên đà cất cánh và cũng không đáp ứng được nhu cầu về nguyên, nhiên liệu và lương thực cần thiết, do đó Anh phải ra sức tìm kiếm thị trường mới. Sự ra đời của thuyết Tự do thương mại đã hỗ trợ cho việc mở rộng thị trường quốc tế của Anh. Bắt đầu từ Anh, chủ nghĩa Tự do thương mại dần dần lan sang các nước Tây Âu như Hà Lan, Pháp, Đức. Tuy nhiên, mức độ áp dụng những quan điểm này ở các nước, ở các thời kỳ lịch sử có khác nhau và đưa lại các kết quả cũng khác nhau.

Trong đó có học thuyết của Adam Smith với lý thuyết về “Bàn tay vô hình”; học thuyết của Keynes với lý thuyết “Bàn tay hữu hình” và học thuyết của trường phái chính hiện đại “Kinh tế hỗn hợp” của Samuelson. Lý thuyết “Bàn tay vô hình” của Adam Smith Lý thuyết về “Bàn tay vô hình” của Adam Smith có ảnh hưởng rất sâu rộng và khá bền vững đến đời sống lý luận và chính sách kinh tế ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là ở các nước phương Tây vào cuối thế kỷ XVII đến đầu những năm 30 của thế kỷ XX. Smith đưa ra lý thuyết này trong tác phẩm lớn 6 nhất của mình “Nguồn gốc của cải của các dân tộc hay gọi là sự giàu có của các dân tộc”, công bố đầu tiên vào năm 1776. Với tư tưởng tự do kinh tế, Adam Smith cho rằng, xã hội là sự liên minh những quan hệ trao đổi.

Chỉ có trao đổi và thông qua việc thực hiện những quan hệ trao đổi thì nhu cầu của con người mới được thỏa mãn. “Hãy đưa cho tôi cái mà tôi cần, tôi sẽ đưa cho anh cái mà anh cần”[21, tr. Khi tiến hành trao đổi sản phẩm lao động của nhau cho nhau thì con người bị chi phối bởi lợi ích cá nhân của mình. Mỗi người chỉ biết tư lợi và chạy theo tư lợi.

Nhưng khi chạy theo tư lợi thì con người tham gia vào hoạt động kinh tế còn chịu sự tác động của “bàn tay vô hình”. Với sự tác động này, con người tham gia vào hoạt động kinh tế vừa chạy theo tư lợi lại vừa đồng thời thực hiện một nhiệm vụ không nằm trong dự kiến đó là đáp ứng lợi ích chung của xã hội. Smith, “Bàn tay vô hình” đó là sự hoạt động của các quy luật kinh tế khách quan hay là một “trật tự tự nhiên”. Để có sự hoạt động của trật tự tự nhiên này thì cần phải có sự tồn tại và phát triển của sản xuất hàng hóa và trao đổi hàng hóa.

Nền kinh tế phải được phát triển trên cơ sở tự do kinh tế, tự do sản xuất, tự do liên doanh, liên kết, tự do mậu dịch. Trên cơ sở đó hình thành mối quan hệ giữa người với người là phụ thuộc vào nhau. Trong xã hội với sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế hàng hóa, người ta luôn luôn có quan hệ kinh tế với nhau. Smith đề cao vai trò của “bàn tay vô hình” và cho rằng, hoạt động sản xuất và lưu thông hàng hóa được phát triển theo sự điều tiết của bàn tay vô hình.

Nhà nước không nên can thiệp vào kinh tế mà chỉ có thể thực hiện những chức năng kinh tế khi mà chức năng đó vượt quá khả năng của các đơn vị kinh doanh đơn lẻ. Ví dụ: xây dựng các công trình lớn, làm đường, thủy lợi.Còn trong điều kiện bình thường, nhiệm vụ của nhà nước là duy trì trật tự trị an, bảo vệ tổ quốc.để tạo ra một sự ổn định, để các tư nhân hoạt động kinh tế. Lý thuyết “Bàn tay hữu hình” của Jonh Maynard Keynes Vào những năm 30 của thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản lâm vào khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng, thất nghiệp diễn ra thường xuyên. Điển hình là cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 1929-1933 hay còn gọi khủng hoảng thừa.

Để giúp cho hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa lấy lại trạng thái cân bằng, đi ra khỏi tình trạng khủng hoảng, suy thoái và tiếp tục phát triển. Học thuyết kinh tế “Chủ nghĩa tư bản được điều tiết” xuất hiện. Người sáng lập ra nó là Jonh Maynard Keynes, nhà kinh tế người Anh, ông sinh năm 1884 và mất năm 1946. Khi nghiên cứu về tự do thương mại, Keynes cho rằng, nếu một nước dựa vào lí luận truyền thống mà tiến hành tự do thương mại, thì có thể giành được lợi ích trong việc thực hiện sản xuất chuyên môn hóa các ngành tương đối ưu thế, nhưng nếu bỏ mất hoặc thu hẹp sản xuất các ngành tương đối ưu thế, thì sẽ dẫn đến vấn đề thất nghiệp ngày càng trầm trọng.

Ông còn cho rằng, gia tăng xuất siêu là biện pháp trực tiếp duy nhất mà chính phủ có thể gia tăng đầu tư nước ngoài. Đồng thời, nếu xuất siêu kim loại quý sẽ chảy về trong nước, đó là biện pháp gián tiếp duy nhất để chính phủ có thể giảm lãi suất trong nước, tăng thêm động cơ đầu tư trong nước. Mở rộng xuất khẩu tức là gia tăng nhu cầu của nước ngoài đối với trong nước, có tác dụng “rót vào” giống như tăng thêm đầu tư và sẽ thúc đẩy tổng thu nhập quốc dân tăng lên gấp bội thông qua hiệu ứng thừa số đầu tư. Việc mở rộng nhập khẩu có nghĩa là gia tăng dùng hàng nhập ngoại, điều đó có tác dụng “chảy ra”, giống như tăng thêm để dành, làm yếu đi tác dụng của thừa số đầu tư, làm giảm thu nhập quốc dân.

Dựa vào lí do trên, Keynes ra sức tán thành xuất siêu, phản đối nhập siêu. Ông chủ trương mở rộng xuất khẩu bằng mọi cách, đồng thời nhờ sự giúp đỡ của việc bảo vệ thuế quan và khuyến khích “mua hàng của Anh” để hạn chế nhập siêu [16, tr. Keynes cho rằng, để đảm bảo sự cân bằng của nền kinh tế thì không thể dựa vào cơ chế thị trường tự phát mà phải bằng sự can thiệp của nhà nước, từ đó Keynes đã đưa ra lý thuyết về bàn tay 8 hữu hình. Theo thuyết đó, thông qua những hỗ trợ của nhà nước như là những biện pháp để duy trì cầu đầu tư, thông qua hỗ trợ tín dụng, hỗ trợ từ ngân sách nhà nước, thông qua hệ thống các đơn đặt hàng của nhà nước, hệ thống thu mua của nhà nước.

để tạo ra sự ổn định về môi trường kinh doanh, ổn định thị trường, ổn định về lợi nhuận cho các công ty. Lý thuyết của Keynes đã được nhiều nước áp dụng, đặc biệt từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến thập kỷ 60 của thế kỷ XX. Nhưng đến đầu những năm 70, nền kinh tế phương Tây liên tục xuất hiện tình trạng lạm phát, nguyên nhân chính là do chính phủ các nước phương Tây đã quá chú trọng, đề cao vai trò của nhà nước trong nền kinh tế. Lý thuyết “Kinh tế hỗn hợp” của Samuelson Samuelson là nhà kinh tế Mỹ, năm 1948, ông đã cho xuất bản bộ giáo trình Kinh tế học.

Trong bộ giáo trình này, Samuelson đã đề cập đến lý thuyết “Kinh tế hỗn hợp”. Nếu các nhà kinh tế học phái cổ điển và cổ điển mới say sưa với “bàn tay vô hình” và “thăng bằng tổng quát”, trường phải Keynes và Keynes mới say sưa với “bàn tay hữu hình”, thì Samuelson chủ trương phát triển kinh tế phải dựa vào cả “hai bàn tay” là cơ chế thị trường và nhà nước. Khi bàn về cơ chế thị trường, Samuelson cho rằng, cơ chế thị trường là hình thức tổ chức kinh tế, trong đó cá nhân người tiêu dùng và các nhà kinh doanh tác động lẫn nhau qua thị trường để xác định ba vấn đề trung tâm: Sản xuất cái gì? Sản xuất thế nào? Và sản xuất cho ai [21, tr. Cơ chế thị trường mang nặng yếu tố tự phát, nhưng không phải là một sự hỗn độn, mà là trật tự kinh tế có tính quy luật.

Trật tự này có nhiệm vụ kết nối các kết giao kinh tế của hàng triệu cá nhân với nhau. Để thực hiện được nhiệm vụ này, ông cho đó là sức mạnh của thị trường. Thị trường là một quá trình mà trong đó người mua và người bán một thứ hàng hóa tác động qua lại lẫn nhau để xác định giá cả và sản lượng hàng hóa. Thông qua sự vận động của giá cả trên thị trường mà các nhà kinh doanh 9 tự định hướng cho mình trong việc giải quyết các vấn đề sản xuất cái gì? như thế nào? cho ai? Người tiêu dùng cũng thông qua sự vận động của giá cả mà đưa ra những quyết định lựa chọn.

Theo quan điểm của Samuelson, nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường sẽ cho nó đạt được những thành tựu to lớn về tăng trưởng và phát triển, thỏa mãn nhu cầu. Tuy nhiên, cơ chế thị trường cũng có những khuyết tật, đó là khủng hoảng, thất nghiệp, lạm phát, phân hóa giàu nghèo, độc quyền trong kinh doanh, sử dụng tài nguyên một cách bừa bãi. Khi nghiên cứu về vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường, Samuelson cho rằng, nhà nước nên tập trung vào 4 chức năng sau: (1) Thiết lập khuôn khổ pháp luật, yêu cầu cả Chính phủ, doanh nghiệp, người tiêu dùng phải tuân theo. (2) Sửa chữa những thất bại của thị trường, đó là bảo vệ cạnh tranh và chống độc quyền.

Hạn chế và ngăn ngừa những ảnh hưởng bên ngoài dẫn đến tính không hiệu quả của hoạt động kinh tế thị trường. Sản xuất và kinh doanh hàng hóa công cộng. Đánh thuế thu nhập cá nhân và thu nhập doanh nghiệp. (3) Ổn định kinh tế vĩ mô bằng cách Chính phủ phải ban hành những chính sách kinh tế thích ứng với từng giai đoạn của chu kì thông qua những quyền lực về tài chính, tiền tệ của nhà nước.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ