Chương 1: Thi pháp hoc trong điện anh và Lav Diaz trong làn sóng điện ảnh Philippines mới. Chương 2: Phim của Lav Diaz nhìn từ chủ đề và motif Chương 3: Phim của Lav Diaz nhìn từ phong cách học. 14 CHUONG 1: THI PHAP HỌC TRONG ĐIỆN ANH VA LAV DIAZ TRONG LAN SONG DIEN ANH PHILIPPINES MOI 1. Cơ sở ly luận 1.
Khải niệm thi pháp hoc Nguồn gốc của thuật ngữ “thi pháp học” (poetique, poetics) bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp là “Poietike” chỉ về một lĩnh vực tri thức mà ở đó nghiên cứu về quy tắc chuyên ngành sáng tác nghệ thuật, phân loại về thể loại nghệ thuật, thê hiện tập trung trong công trình Poetica (Nghệ thuật thơ ca) của triết gia Aristote (384 - 322). Theo tiến trình phát triển của lịch sử và nghệ thuật, định nghĩa và hướng tiếp cận thi pháp học có nhiều cách hiéu. Có thé hiểu, thi pháp học là cách thức phân tích tác pham bám vào văn bản là chính, không chú trọng đến những van đề nằm ngoài văn bản như: tiêu sử nhà văn, hoàn cảnh sáng tác, nguyên mẫu nhân vật, giá trị hiện thực, tác dụng xã hội. Thi pháp học chỉ chú ý đến những yếu tố hình thức tác phẩm như: hình tượng nhân vật - không gian - thời gian, kết cau - cốt truyện - điểm nhìn, ngôn ngữ, thé loại.
Nội dung trong tác pham phải được suy ra từ hình thức, đó là hình thức mang tính nội dung. Cũng theo tác gia Trần Dinh Sử thì “Thi pháp học là khoa học nghiên cứu văn học như một nghệ thuật. Trong nghệ thuật, nội dung hoàn toàn hóa thân vào hình thức. Cho nên, hình thức nghệ thuật là đối tượng chiếm lĩnh chủ yếu của thi pháp học.
Tùy thuộc vào quan niệm về hình thức nghệ thuật của văn học, thi pháp học chia thành nhiều hệ hình, mỗi hệ hình lại có nhiều trường phái khác nhau. 341-381] Theo nhà nghiên cứu người Nga, M. Bakhtin (1895 - 1975) thì: “Thi pháp học là ngành nghiên cứu văn học, lay đối tượng nghiên cứu cơ bản là thể loại, ngôn ngữ, kết cấu, nhân vật, cốt truyện và những yếu tố, phương thức biéu đạt của tác phẩm văn học nói chung. Những yếu tổ hình thức tác pham được quan 15 tâm nghiên cứu là những yếu tổ hình thức mang tính nội dung, mang tinh quan niệm, tính hệ thống.
Thi pháp học ở đây được hiéu là một phương pháp tiếp cận của người nghiên cứu, phê bình với thực thê văn học - phương pháp nghiên cứu, phê bình lay đối tượng nghiên cứu là hình thức nghệ thuật của tác phẩm. Đó là hình thức mang tính nội dung và mang tính quan niệm, tư tưởng. Thi pháp học vì thế là một ngành nghiên cứu có thê mang đến kết quả thê hiện bản chất nghệ thuật của tác phẩm văn học. Tuy nhiên, vi tri vai trò và sự phát triển của thi pháp học mỗi một thời kì một khác bởi phụ thuộc vào nhiều yếu tố văn hoá xã hội.
185] Theo tiến trình lịch sử và nghiên cứu, thi pháp học từ thời của triết gia người Hy Lạp Aristote đến thi pháp học hiện đại có sự khác nhau về nguyên tắc. Thi pháp học của Aristotle là thi pháp học quy phạm, đến từ sự quan sát và mô phỏng từ đó đúc kết ra những quy tắc chung về sáng tạo nghệ thuật. Điểm yếu của nguyên tắc này đã bỏ quên tính cá nhân và vai trò của chủ thể sáng tạo. Một trong những giai đoạn cho thấy nghiên cứu thi pháp học chuyển minh là khi giai đoạn dé cao tam quan trọng của vô thức trong sáng tạo nghệ thuật được nhận diện.
Người sáng tạo không chỉ có thể kiểm soát toàn bộ tác phẩm của mình mà cái vô thức đã đây tác phâm đó đi xa hơn những tính toán và dự tính của tác giả. Sự kiểm soát của tac giả lên tác phâm không còn là điều tuyệt đối. Vì thế thi pháp học hiện đại ra đời với những nguyên tắc khác. Thi pháp học hiện đại có tính bat quy phạm và đi tìm sự phiêu lưu của việc sáng tác (écriture).
Nếu thi pháp học cô dién có tính áp đặt và công thức dé quy định cái gì là đúng hoặc sai, hay hoặc dở dé đưa cách sang tạo vao một cái khung được định sẵn là chuẩn thì thi pháp học hiện đại miêu tả; không gò ép tác phẩm vào một mô hình nhất định dé nhận định. Phong cách riêng của tác giả được chú trọng dé đi tìm cái khác biệt giữa những cái giống nhau. 16 Tuy Nga-Xô viết và phương Tây là hai nguồn về thi pháp học hiện đại được nghiên cứu và tiếp cận tại Việt Nam nhưng mỗi nguồn lại có những cách tiếp cận riêng về thi pháp học. “Thi pháp học từ phương Tây bao giờ cũng đi từ tác phẩm, lay tác phẩm là trung tâm nghiên cứu, lay ngôn ngữ tác phẩm làm điểm tựa khách quan, các yếu tố tiểu sử tac giả, bối cảnh văn hoá xã hội của tác phẩm đều bị được coi là yếu t6 ngoài văn bản không được quan tâm đến.
Còn thi pháp học Nga - Xô viết vốn là thi pháp học lịch sử nên lấy xuất phát điểm là bối cảnh thời đại để đến với tác phẩm. 96] Tác giả Hoàng Câm Giang cũng từng đề cập đến hướng tiếp cận từ góc độ thi pháp học lịch sử trong cuốn Tiểu thuyét Việt Nam dau thé kỷ XX: Cấu trúc và khuynh hướng. Trong đó trích dẫn câu nói của nhà nghiên cứu Khrapchenko: “Nếu như Thi pháp hoc đại cương, lý thuyết, trong một chừng mực nao đó danh để nghiên cứu cấu trúc, hình thức tô chức tác phẩm văn học nghệ thuật, thi pháp học lịch sử xem xét sự phát triển của những con đường và phương tiện thể hiện hiện thực băng nghệ thuật, nghiên cứu chúng trong những chiều kích lớn hơn, khi hướng tới sáng tác nghệ thuật của các dân tộc khác nhau, các trào lưu và các thê loại khác nhau. Thi pháp học trong điện ảnh Theo cuốn Thi pháp học trong điện ảnh của tac giả David Bordwell thì thi pháp học truyền thống tập trung nghiên cứu ba đối tượng khác nhau trong một tác phẩm điện ảnh đó là: chủ dé (thematics), hình thức quy mô lớn (large-scale form) và phong cách (stylistist).
Chủ đề nghiên cứu đối tượng, chủ dé, đề tài - được xem là một trong những yếu t6 quan trong cấu thành nên tác phẩm. Người nghiên cứu có thé khảo sát những motifs được lặp lại, các biểu tượng và những chủ dé như những chất liệu và nguyên tắc dé cấu trúc nên tác phẩm. Tương tư như thé, nhiều nhà nghiên cứu phim đã chỉ ra cách mà thể loại phim đã trình hiện và lặp lại các hình anh, 17 huyền thoại và motif trong phim. Trong khi nhiều tác giả được truyền cảm hứng từ việc nghiên cứu lịch sử nghệ thuật, đã chỉ ra tầm quan trọng của biểu tượng trong điện ảnh đại chúng.
Nhánh thứ hai được nghiên cứu trong thi pháp học đó là hình thức quy mô lớn. Đối tượng nghiên cứu chính trong nhánh này là lý thuyết và phân tích về tự sự trong phim - yếu tô quan trọng câu thành nên tác phâm. Việc nắm bắt được tự sự trong phim sẽ ảnh hưởng lớn trong việc người xem đón nhận va cam nhận về bộ phim như nào. Ví dụ trong phim dài đầu tay Force Majeure (2014) của đạo diễn Ruben Ostlund đầu phim kê về một gia đình một vợ, một chồng, hai đứa con nhỏ đi leo núi trượt tuyết chơi.
Trong một trận lở tuyết, khoảnh khắc đó người chồng đã bỏ chạy đề lại hai đứa con cùng cô vợ một mình và cả truyện phim chỉ xoay quanh tâm lý giữa người vợ và người chồng phức tạp. Khan giả sẽ không thê đón nhận cái kết một cách thoải mái và tinh tường về bản chất con người nếu không theo dõi tuyến truyện, động lực và các trở ngại của nhân vật xuyên suốt bộ phim. Vi vậy việc nghiên cứu và xem xét kỹ tự sự trong phim đóng góp một vai trò quan trọng trong việc cảm nhận một bộ phim. Trong luận văn nghiên cứu về ba tác phẩm của đạo diễn Lav Diaz này sẽ được tập trung vào phân tích motif các nhân vật được lặp lại như thế nào va cách ké chuyện phim như tiến trình cô điển trong việc viết tiêu thuyết nhưng trong đó những tiéu tiết và những biến số trong việc xây dựng và cấu trúc bộ phim khiến các tác phẩm điện ảnh của Lav Diaz đương đại và có cái nhìn mới lên hiện thực cũng như lịch sử.
Phong cách học, chiếc chân trụ thứ ba trong cái kiềng ba chân thi pháp học, nghiên cứu chất liệu và các yếu tố lặp lại (patterning) trong các thành phan cau tạo nên bộ phim. Cụ thê ở đây là nghiên cứu về dàn cảnh, quay phim, cỡ cảnh, dựng phim, quay phim, âm thanh trong phim. Luận về phong cách, có nhiều 18 khái niệm về phong cách được nghiên cứu nhắc đến như phong cách thời kỳ (period style) và phong cách quốc gia (national style). Tuong tu thé, trong cuốn Điện ánh va văn học - Dẫn luận và nghiên cứu của tác gia Timothy Corrigan phân chia thi pháp học trong phim ra làm ba mục: chủ đề, tự sự và những yếu tố của phong cách.
- Chủ dé và Mô tip là tư tưởng chính của tác pham. Thông thường việc cải biên từ tác phâm văn học sang tác phâm điện ảnh đều giữ lại chủ đề của tác phẩm gốc. Điển hình như các tác phẩm của đại văn hào Shakespeare như Hamlet với chủ đề về người anh hùng sống trong giai đoạn xã hội mục nát sẽ phân định con người và tinh cách anh ta như thé nao thì tác phâm điện ảnh đều giữ lại được chủ đề này, song song đó phát triển và cải biên theo hướng của hiện thực đương thời. Hoặc gần đây có bộ phim Drive My Car của đạo diễn Ryusuke Hamaguchi được chuyên thé từ tác phẩm văn học của tác giả Haruki Murakami.
Đạo diễn đã giữ lại những Mô típ, trạng thời và bầu không khí mang đậm chất Murakami như Mô típ về người phụ nữ bí ân, về nhân vật nam chính nhạt nhoà với chính mình và đời sống đi tìm một hành trình mới,. Chủ đề chính là bộ xương giúp người sáng tác trong quá trình thực hành nghệ thuật giữ được hướng di và tinh thần chính của bộ phim. Song song đó, chủ để là cái cốt yếu cuối cùng người tiếp nhận nhận được sau khi thưởng thức trọn vẹn tác phẩm, là ý tưởng lớn và giúp người xem kết nối mọi chỉ tiết xuất hiện và được cấu trúc trong tác phâm. Yếu tô thứ hai sau đó cần được nhắc đến chính là nhân vật.