Chương 1: Đô thị, lịch sử đô thị và dòng phim độc lập Việt Nam Chương 2: Không gian đô thị như là hệ thống văn hóa Chương 3: Không gian đô thị như là hệ thống ngôn ngữ điện ảnh Một số ký hiệu viết tắt trong luận văn Không gian đô thị KGĐT Liên hoan phim LHP Nhà xuất bản Nxb Đập cánh giữa không trung Đập cánh Trang tr. Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn ĐHKHXH&NV Tên các bài báo, tác phẩm sẽ được in nghiêng Ký hiệu cho phụ lục hình ảnh Bi, đừng sợ! B Đập cánh giữa không trung D Homostratus H 12 z CHƢƠNG 1. ĐÔ THỊ, LỊCH SỬ ĐÔ THỊ VÀ DÒNG PHIM ĐỘC LẬP VIỆT NAM 1. Cơ sở lý luận Phim độc lập châu Á ra đời từ đô thị và gắn bó chặt chẽ với đô thị.
Trong các bộ phim độc lập ở châu Á, KGĐT không chỉ là không gian sống của nhân vật, mà còn là không gian nghệ thuật của nhà làm phim. Các nhà làm phim độc lập Giả Chương Kha, Lâu Diệp, Vương Tiểu Soái (Trung Quốc); Thái Minh Lượng (Đài Loan); Vương Gia Vệ (Hong Kong), Apichatpong Weerasethakul (Thái Lan) và nhiều nhà làm phim độc lập ở Philippines… đều lấy đô thị là đối tượng phản ánh. Các nhà làm phim độc lập của Việt Nam như Phan Đăng Di, Nguyễn Hoàng Điệp, Síu Phạm… cũng không ngoại lệ. Nhận thức được mối quan hệ chặt chẽ giữa phim độc lập và đô thị, trong khuôn khổ luận văn này chúng tôi sẽ làm rõ khái niệm đô thị và đô thị hóa, tìm hiểu lịch sử phát triển của đô thị Việt Nam.
Bởi đô thị Việt Nam với tất cả những đặc điểm của nó đã ảnh hưởng rất lớn đến cảm xúc, tư duy nghệ thuật của các nhà làm phim độc lập, cũng như ảnh hưởng đến bộ phim họ làm ra. Khái niệm đô thị, đô thị hóa và lược sử phát triển của đô thị ở Việt Nam Đô thị chính là thước đo trình độ văn minh của nhân loại. Nhà nhân học nổi tiếng Gordon Childe đã xác định có một cuộc “cách mạng đô thị” (urban revolution) tiếp sau cách mạng Đá mới. Đây là cột mốc đánh dấu việc con người thoát khỏi lệ thuộc tự nhiên về mặt cư trú, biết tập hợp lại thành những cộng đồng tụ cư đa quan hệ [10].
Theo từ điển Oxford, từ urban (đô thị) xuất hiện từ đầu thế kỉ XVII, có gốc Latin là "urbanus" nghĩa là "thành phố". Từ đô thị được từ điển Oxford 13 z xếp loại tính từ, thể hiện đặc tính của thành phố, thành thị1. Từ urbanization (đô thị hóa) được từ điển Oxford định nghĩa: là một quá trình khiến một khu vực trở nên thành thị hơn2. Theo Lowry, đô thị được định nghĩa như là một nơi cư trú thường xuyên của ít nhất 2.000 người và họ không tham gia sản xuất nông nghiệp.
Họ sống trong một phạm vi mà người này có thể đi bộ đến chỗ người kia sống. Thành phố là nơi cư trú có mật độ đông đúc với quy mô dân số ít nhất là 100. Chan định nghĩa đô thị hóa là một quá trình đa diện và phức hợp nhưng về cơ bản nó là biểu hiện về mặt không gian của sự chuyển dịch cơ cấu lao động từ các hoạt động dựa trên nông nghiệp sang các hoạt động dựa trên công nghiệp trong cấu trúc sản xuất [40, tr. Các ngành khoa học cũng phát triển định nghĩa riêng về đô thị, đô thị hóa sát với nhu cầu nghiên cứu của họ.
Ngành Dân số định nghĩa đô thị hóa dựa trên các tiêu chí: Quy mô dân số; Mật độ dân số; Tỷ lệ dân số tham gia hoạt động sản xuất phi nông nghiệp; Chức năng hành chính của địa phương [27, tr. Ngành Xã hội học đô thị định nghĩa đô thị hóa là sự di dân từ nông thôn vào thành thị, là sự tập trung ngày càng nhiều dân cư sống trong những vùng lãnh thổ địa lý hạn chế được gọi là các đô thị [29, tr. Như vậy có thể thấy đô thị hóa được xem là quá trình tổ chức lại môi trường cư trú của nhân loại. Nhân loại từ chỗ chủ yếu ở nông thôn, khi thay đổi phương thức sản xuất họ đã phát minh ra đô thị và ngày càng có xu hướng sống tập trung tại đô thị.
Các nhà khoa học ngày càng ngả sang cách hiểu đô thị hóa như là một quá trình kinh tế - xã hội - lịch sử mang tính quy luật, trên quy mô toàn cầu.com/definition/urban 2 https://en.com/definition/urbanization 14 z Lịch sử thế giới ghi nhận, dù đô thị của phương Tây ra đời sau đô thị ở phương Đông, nhưng do kinh tế công thương nghiệp phương Tây phát triển hơn, nên sau này đô thị của phương Tây đã phát triển vượt trội. Cuộc Cách mạng Công nghiệp diễn ra cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX ở phương Tây đã làm bùng phát đô thị ở châu Âu và thế giới. Đô thị hóa đã chuyển dịch toàn bộ cơ cấu nền kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp, thương mại và dịch vụ. Năm 1890, có 6,5% dân số thế giới sống ở đô thị, tới năm 2014 tỉ lệ dân cư đô thị là 50% [40, tr.
Theo Báo cáo về triển vọng đô thị hóa thế giới 2014 của Liên hợp quốc công bố ngày 10/7/2014, tới năm 2050 sẽ có 66% dân số thế giới sống ở đô thị1. Trong suốt chiều dài lịch sử phát triển, Việt Nam luôn được định danh là một đất nước nông nghiệp với hằng số văn hóa truyền thống nông nghiệp - nông thôn - nông dân. Kinh tế, xã hội Việt Nam không có những phát triển đột phá để tạo bước ngoặt cho đô thị. Các hình thái kinh tế - xã hội và hình thái đô thị ở Việt Nam chuyển biến theo dạng thức kế thừa, tiệm tiến, cái sau gối chồng lên cái trước và cái trước bảo lưu tồn đọng lại trong cái sau [10, tr.
Đô thị ở Việt Nam ngay từ thời cổ đại đã rất khiêm tốn về quy mô, số lượng và mật độ. Trải qua cả ngàn năm, đô thị vẫn không bứt phá bởi sự khống chế hai đầu: sự kiểm soát của nhà nước quan liêu toàn trị và sự níu kéo bao vây của cộng đồng các làng xã. Ngoài ra ý thức hệ “trọng nông ức thương” đã kìm hãm sự phát triển hoạt động kinh doanh tự do, tiền đề của phát triển đô thị. Nông thôn và thành thị có một mối quan hệ hòa đồng và tương xâm.
“Thị dân chưa bao giờ chịu cắt đứt mình với cái cuống nhau nông thôn từng nuôi dưỡng họ, chưa bao giờ chịu để mình mất gốc. Đó là những 1 http://baotintuc.vn/nhin-ra-the-gioi/ngay-dan-so-the-gioi-117-hon-mot-nua-dan-so-song-o-do-thi- htm 15 z giai tầng thị dân không thuần nhất và chưa chín muồi” [10, tr. Sự hòa đồng dẫn đến sự bao vây, níu kéo của làng xã nông thôn với đô thị cả về vật chất lẫn tinh thần. “… nó bảo lưu một nếp sống tùy tiện, một tâm lý manh mún của tầng lớp nông dân trong một xã hội nông nghiệp lạc hậu.
Nó không tạo được một ý thức làm chủ tự do, tiến tới một xã hội công dân đô thị, như trong quá trình của các thành thị Tây Âu” [10, tr. Xã hội truyền thống của Việt Nam có đặc trưng nổi bật là sự tồn tại của thế lưỡng nguyên đối trọng trên tất cả mọi mặt của đời sống: những yếu tố đối lập nhau cùng tồn tại và đan xen, xung đột, đấu tranh với nhau nhưng cũng lại nương tựa, bổ sung cho nhau, tạo nên một hiện tượng dung hợp mang tính thỏa hiệp, góp phần thiết lập sự ổn định nhưng cũng hạn chế phát triển, dẫn đến ngưng đọng và trì trệ. Thế lưỡng nguyên về kinh tế - chính trị - xã hội đã tác động đến văn hóa tư tưởng. Trong những thế kỉ XVII – XVIII – XIX, nội tâm người dân đô thị luôn bị giằng xé, đầy những nghịch lý lưỡng nan giữa một hệ tư tưởng Nho giáo chính thống quy phạm với một thực trạng văn hóa thoáng mở, vượt qua những lề thói cũ và mang tính nhân văn, giải phóng con người [10, tr.
Đến thời kì hiện đại, đô thị hóa tại Việt Nam luôn gặp khó khăn bởi ách đô hộ của thực dân, và hai cuộc chiến tranh chống Pháp (1946 - 1954) và Mỹ (1955 – 1975). Năm 1955, Việt Nam có 11% dân số là dân đô thị. Sau năm 1985, dân số đô thị mới bắt đầu tăng. Năm 2009 tỉ lệ thị dân là 29,6%.
Năm 2016, tỉ lệ thị dân chiếm 34,6% [29, tr. Quá trình đô thị hóa ở Việt Nam diễn ra chậm chạp, ở trình độ thấp, phân hóa không đồng đều giữa các vùng miền, do chịu nhiều ảnh hưởng của chiến tranh và cơ chế chính sách. Sự phát triển không đồng đều giữa đô thị và nông thôn kéo theo làn sóng di cư rất lớn của người nông thôn ra đô thị kiếm việc làm, tạo nên “những tập đoàn thôn dân trong lòng đô thị” (urban 16 z villagers) [32, tr. Kinh tế thị trường đã kích thích khát vọng làm giàu bằng mọi giá của các cư dân dẫn đến một thứ “chủ nghĩa tư bản man rợ” (thuật ngữ của nhà trí thức Nguyễn Khắc Viện), làm băng hoại những giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc [10].
Nhận xét của cố GS Trần Quốc Vượng: “Tiểu nông là nền xảng xã hội Việt Nam cổ truyền và tâm thức, tâm lý tiểu nông hay cái căn tính tiểu nông vẫn là nét trội, nét bản chất của tâm lý, ý thức, văn hóa Việt Nam” [32, tr.22] vẫn rất đúng với xã hội đô thị đương đại Việt Nam. Về cơ bản, đô thị Việt Nam vẫn là sự pha trộn giữa thành thị và nông thôn, Việt Nam vẫn là “một cái làng lớn” như nhận xét của GS Trần Quốc Vượng. Khái niệm phim độc lập Khái niệm phim độc lập ra đời cùng với nền điện ảnh lớn nhất thế giới, điện ảnh Hoa Kỳ. Các hãng phim độc lập được định nghĩa là không có sự kết hợp thành dây chuyền, không thuộc sở hữu của một hãng phát hành và cũng không sở hữu một hãng phát hành nào.
Một hãng phim độc lập có thể rất lớn và có uy tín, hoặc nhỏ và không có vị thế, như các nhà sản xuất thể loại phim giật gân hạng B [43, tr. Trong những năm 1950, máy quay cầm tay phát triển đã khiến việc làm phim trở nên dễ dàng hơn. Tại Mỹ, các hãng phim độc lập bắt đầu bùng nổ, chiếm lấy phân khúc sản xuất phim giật gân hạng B, phim gợi dục, đánh vào thị trường dành cho thanh, thiếu niên. Vào những năm cuối thập niên 60, các bộ phim độc lập kinh phí thấp đã đạt doanh thu đáng kể.
Ví dụ phim độc lập the Graduate (1967) chi phí hết 3 triệu USD, đem về 49 triệu USD.