CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1. Khái niệm Logistics: Có thể nói thuật ngữ “logistics” đã xuất hiện từ lâu và nó được sử dụng đầu tiên trong quân đội và là một phần của nghệ thuật chiến tranh gắn liền với việc tổ chức hành quân, cung ứng nhu yếu phẩm, trang thiết bị kỹ thuật, vũ khí đạn dược đầy đủ và kịp thời đảm bảo cho các chiến dịch giành thắng lợi. Khái niệm logistics được đưa ra tuỳ theo góc độ nghiên cứu nó. Trong cuốn “An Intergrated Approach to logistics Management” của viện Kỹ thuật công nghệ Florida – Mỹ: “Logistics là việc quản lý sự vận động và lưu giữ của nguyên vật liệu vào trong doanh nghiệp, của hàng hoá trong lúc sản xuất tại doanh nghiệp và hàng thành phẩm đi ra khỏi doanh nghiệp”.
Logistics được Uỷ ban quản lý Logistics của Mỹ định nghĩa như sau: “Logistics là quá trình lập kế hoạch, chọn phương án tối ưu để thực hiện việc quản lý, kiểm soát việc di chuyển và bảo quản có hiệu quả về chi phí và ngắn nhất về thời gian đối với nguyên vật liệu, bán thành phẩm cũng như các thông tin tương ứng từ giai đoạn tiền sản xuất cho đến khi hàng hóa đến tay người tiêu dùng cuối cùng để đáp ứng yêu cầu của khách hàng”. Điều 233, Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 đưa ra khái niệm: “Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao”. Qua đó, chúng ta thấy logistics chính là hoạt động quản lý dòng lưu chuyển của nguyên vật liệu từ khâu mua sắm qua quá trình lưu kho, sản xuất ra sản phẩm và phân phối tới tay người tiêu dùng. Mục đích giảm tối đa chi phí phát sinh hoặc sẽ phát sinh với một thời gian ngắn nhất trong quá trình vận động của nguyên vật liệu phục vụ sản xuất cũng như phân phối hàng hoá một cách kịp thời.
Các hoạt động trong Logistics: Khi nhắc đến logistics đa số mọi người thường lầm tưởng đây chỉ là dịch vụ vận chuyển hàng hóa. Nhưng thực chất, logistics bao gồm rất nhiều hoạt động khác nhau. Các hoạt động của logistics bao gồm: Sản xuất hàng hóa (Manufacturing): Quản lý sản xuất hàng hóa trong các nhà máy theo đúng tiêu chuẩn chất lượng của đơn đặt hàng. Đóng gói hàng hóa (Packaging): Đóng gói thành phẩm vào bao bì, hộp carton để bảo vệ hàng hóa và thuận tiện cho quá trình vận chuyển.
Quản lý hàng tồn kho (Inventory management): Quản lý và đảm bảo số lượng và chất lượng hàng tồn trong kho, tiến hành nhập xuất hàng hóa theo kế hoạch. Vận chuyển hàng hóa (Transportation, Cargo, Delivery, Freight): Vận chuyển hàng hóa là một trong những hoạt động quan trọng nhất trong logistics. Đây là quá trình vận chuyển các sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ thông qua các phương tiện vận chuyển như xe tải, container, tàu thuyền hoặc máy bay. Trong quá trình này, các doanh nghiệp cần phải lựa chọn phương tiện vận chuyển phù hợp để đảm bảo hàng hóa được vận chuyển đến nơi một cách an toàn và nhanh chóng nhất.
Lưu kho, lưu bãi hàng hóa (Warehousing, Storage): đặt hàng hóa tại kho, bãi trong khi chờ làm thủ tục xuất nhập hàng hóa. Xếp dỡ hàng hóa (Handling): Xếp dỡ hàng hóa vào container hoặc bốc xếp thẳng lên xe tải, tàu hỏa, tàu thủy hay máy bay để vận chuyển đến nơi tiêu thụ. Giải quyết các thủ tục và giấy tờ cần thiết liên quan đến quá trình vận chuyển hàng hóa (Forwarding). Khai báo hải quan (Custom Declaration): Khai báo các giấy tờ cần thiết theo quy định của pháp luật, nộp thuế và các lệ phí khác.
Kiểm duyệt hàng hóa (Inspection): Tiến hàng kiểm tra để đảm báo số lượng và chất lượng của hàng hóa không vi phạm các quy định của nhà nước. 6 Quản lý chuỗi cung ứng: Quản lý chuỗi cung ứng là hoạt động quan trọng giúp các doanh nghiệp đảm bảo sản phẩm được cung cấp đến người tiêu dùng một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất. Quản lý chuỗi cung ứng bao gồm các hoạt động từ việc đặt hàng, sản xuất, vận chuyển đến lưu trữ sản phẩm. Quá trình này được quản lý và theo dõi bằng các công nghệ hiện đại để đảm bảo tính chính xác và tối ưu hóa quá trình.
Bảo trì và sửa chữa: Bảo trì và sửa chữa là hoạt động quan trọng để đảm bảo phương tiện vận chuyển và thiết bị được sử dụng trong quá trình logistics hoạt động tốt nhất. Các doanh nghiệp cần thường xuyên kiểm tra, bảo trì và sửa chữa các thiết bị để đảm bảo tính an toàn và hiệu quả trong quá trình vận chuyển hàng hóa. Quản lý dữ liệu: Quản lý dữ liệu là hoạt động quan trọng giúp các doanh nghiệp quản lý thông tin về các sản phẩm và quá trình logistics một cách chính xác và hiệu quả. Các công nghệ hiện đại như hệ thống quản lý kho, hệ thống quản lý chuỗi cung ứng và hệ thống quản lý vận chuyển đều sử dụng các dữ liệu để theo dõi và đánh giá hiệu quả của quá trình logistics.
Quản lý dữ liệu cũng giúp cho các doanh nghiệp đưa ra các quyết định thông minh và nhanh chóng để tối ưu hóa quá trình logistics. Các hình thức của Logistics: Logistics được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau, nhưng thường gặp nhất là theo ba tiêu chí: theo quá trình hoạt động, theo hình thức tổ chức hoạt động và theo đối tượng hàng hóa. Theo tiêu chí hình thức, Logistics được chia thành 5 loại: Logistics bên thứ nhất (1PL - First Party Logistics): Chủ sở hữu hàng hóa tự mình tổ chức và thực hiện các hoạt động Logistics để đáp ứng nhu cầu của bản thân, chủ hàng sẽ tự đầu tư vào phương tiện vận tải, kho bãi, nhân công,. để quản lí và vận hành hoạt động logistics.
Hình thức này làm giảm hiệu quả kinh doanh của phần lớn doanh nghiệp vì họ không đủ kỹ năng, kinh nghiệm cũng như chuyên môn trong quản lý và vận hành hệ thống. Logistics bên thứ 2 (2PL - Second Party Logistics): 7 Người cung cấp dịch vụ logistics bên thứ 2 sẽ cung cấp dịch vụ cho các hoạt động đơn lẻ trong dây chuyền logistics như vận tải, lưu kho bãi, thanh toán, mua bảo hiểm. 2PL cho phép tích hợp các hoạt đông đơn lẻ thành chuỗi cung ứng đồng nhất. VD: Các hãng tàu như ONE, Maersk, Yang Ming và Evergreen là những tập đoàn lớn chuyên về vận chuyển hàng hóa bằng tàu biển.
Những công ty này cung cấp dịch vụ cho các đơn vị khác và chỉ đảm nhiệm khâu Vận chuyển trong toàn bộ chuỗi cung ứng của nhiều công ty khác. Logistics bên thứ 3 (3PL - Third Party Logistics): Người cung cấp dịch vụ sẽ thay mặt chủ hàng quản lý và thực hiện các dịch vụ logistics cho từng bộ phận. 3PL bao gồm nhiều dịch vụ khác nhau, kết hợp chặt chẽ việc luân chuyển, tồn trữ hàng hóa, xử lý thông tin,. và có tính tích hợp vào dây chuyền cung ứng của khách hàng.
Nên nhớ 3 là mối quan hệ có 3 đối tượng mang tính di truyền. VD: Một khách hàng thuê một Công ty Forwarder A để vận chuyển hàng hóa từ kho của họ đến một cảng ở một quốc gia khác. Dù nhận vận chuyển cho toàn bộ quá trình nói trên, nhưng forwarder A không có năng lực thực hiện chặng giao hàng bằng đường biển (do không có tàu). Do đó, công ty thuê lại chặng này từ Hãng tàu B.
Logistics bên thứ 4 (4PL - Fourth Party Logistics): Khái niệm 4PL xuất hiện lần đầu vào những năm 1990. Hình thức này là một tầng cao hơn 3PL, khi mà một công ty logistics đóng một vai trò lớn hơn nhiều trong chuỗi cung ứng của khách hàng. Các công ty 4PL còn được gọi là Lead Logistics Provider hay LLP. Đây là người kết hợp các nguồn lực, tiềm năng và cơ sở vật chất kỹ thuật của mình với các đơn vị logistics khác để thiết kế, xây dựng và vận hành các giải pháp chuỗi logistics nhằm tạo ra một chuỗi cung ứng tinh gọn, hiệu quả và tiết kiệm chi phí.
Logistics bên thứ 5 (Fifth Party Logistics): Hay còn có cái tên E-logistics, Logistics trên nền thương mại điện tử. Mô hình tương đối mới này là sự kết hợp của 3PL và 4PL, theo đó tất 8 cả các hoạt động trong chuỗi cung ứng được kiểm soát bằng công nghệ thông tin (IT). Một đặc điểm khác biệt khác là nhà điều hành 5PL hợp nhất các giải pháp hậu cần của một số khách hàng. Một công ty 5PL có thể được gọi là công ty tổng hợp hậu cần (logistics aggregator), 5PL tổng hợp nhu cầu của khách hàng thành khối lượng lớn để có được mức giá tốt hơn từ hãng hàng không và các hãng tàu, kho bãi và phân phối.
Ngoài tích hợp, quản lý và kiểm soát chuỗi cung ứng, các công ty 5PL còn cung cấp các dịch vụ bổ sung như call centers, thanh toán trực tuyến và mạng lưới chuyển phát nhanh. Theo quá trình, Logistics được chia thành: Logistics đầu vào (Inbound Logistics): Là các dịch vụ khâu đầu vào của doanh nghiệp, đảm bảo cung ứng các yếu tố đầu vào một cách tối ưu về cả vị trí, thời gian và chi phí phục vụ cho quá trình sản xuất và lưu kho hàng hóa. Logistics đầu ra (Outbound Logistics): Là các dịch vụ khâu đầu ra của doanh nghiệp, cung cấp thành phẩm, hàng hóa đến tay người tiêu dùng một cách tối ưu về cả vị trí, thời gian và chi phí để đem lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp. Logistics ngược (Reseve Logistics): Là các dịch vụ được cung ứng đảm bảo cho quá trình thu hồi phế phẩm, phế liệu,.
các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường phát sinh từ quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng trở về để tái chế hoặc xử lý. Theo đối tượng hàng hóa, Logistics được chia như sau: Logistics hàng hóa tiêu dùng nhanh (FMCG logistics): là quá trình logistics cho hàng tiêu dùng có thời hạn sử dụng ngắn như: quần áo, giày dép, thực phẩm,… Logistics ngành ô tô (Automotive logistics): là quá trình Logistics phục vụ cho ngành ô tô. Logistics hóa chất (Chemical logistics): Là hoạt động logistics phục vụ cho ngành hóa chất, bao gồm cả hàng độc hại, nguy hiểm. Logistics hàng điện tử (Electronic logistics).
Logistics dầu khí (Petroleum logistics).