Phần mở đầu, kết luận, kiến nghị và phụ lục, luận án đƣợc bố cục thành 5 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu Chƣơng 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn về các nhân tố ảnh hƣởng đến thu nhập của hộ sản xuất sản phẩm mang Chỉ dẫn địa lý Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 4: Thực trạng sản xuất và các nhân tố tác động đến thu nhập của hộ sản xuất Chả mực Hạ Long trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh Chƣơng 5: Giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ sản xuất Chả mực Hạ Long trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 6 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU Thông qua việc tổng hợp, so sánh, phân tích các công trình nghiên cứu quốc tế và các công trình nghiên cứu trong nƣớc liên quan đến các nhân tố ảnh hƣởng đến thu nhập của hộ sản xuất sản phẩm mang CDĐL, nghiên cứu sinh đúc kết những điểm mạnh, những hạn chế cũng nhƣ tìm ra khoảng trống nghiên cứu của các công trình trƣớc đó nhằm kế thừa và phát triển trong luận án của mình. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới, đã có rất nhiều các nghiên cứu về CDĐL đƣợc công bố, trong đó chủ yếu là các bài tham luận tại các hội thảo trong khuôn khổ Hiệp định TRIPs hoặc dƣới dạng sách chuyên khảo; tiêu biểu có thể kể đến một số nghiên cứu về các nội dung nhƣ sau: 1. Tác động của sản phẩm mang Chỉ dẫn địa lý đối với kinh tế - xã hội Mặc dù có một số khác biệt trong quan điểm khi bàn về tác động kinh tế – xã hội của CDĐL, phần lớn các nghiên cứu đều thống nhất rằng có những lợi ích quan trọng gắn với CDĐL. Cụ thể, trong nghiên cứu “Chỉ dẫn địa lý, hàng hóa công cộng và phát triển bền vững: Vai trò của chiến lược và chính sách công” cùng các cộng sự, Belletti (2017) đã khẳng định lợi ích thực tế của sản xuất sản phẩm mang CDĐL đối với cải thiện thu nhập của ngƣời dân và nâng cao đời sống kinh tế - xã hội của địa phƣơng.
Theo nhóm tác giả, để đạt đƣợc những tác động tích cực này là không hề đơn giản, phụ thuộc rất lớn vào hiệu quả của cách thức sử dụng và khai thác chúng. Ngoài ra, để có thể khai thác hiệu quả đòi hỏi phải có sự hỗ trợ tích cực cũng nhƣ những nỗ lực đồng bộ của chính quyền và ngƣời dân, đặc biệt là các hộ sản xuất và doanh nghiệp. Đồng quan điểm, các nhóm tác giả nghiên cứu về tác động của CDĐL tại Châu Âu (Arfini và cộng sự, 2019; Barjolle và Sylvander, 2002), Châu Phi (Biénabe và Marie-Vivien, 2017) và một số quốc gia đang phát triển (Bramley và Biénabe, 2012; Grote và cộng sự, 2009) cũng chỉ ra rằng tác động của CDĐL thay đổi rất nhiều tùy thuộc vào quá trình sản xuất sản phẩm mang CDĐL cũng nhƣ mức độ tác động là không đồng nhất giữa các quốc gia, vùng, 7 ngành và mã sản phẩm. Các nghiên cứu này chủ yếu sử dụng phƣơng pháp luận và phân tích định tính trên cơ sở quan sát thực tế một số sản phẩm mang CDĐL điển hình khi xem xét, khám phá các tác động của CDĐL đối với tình hình kinh tế – xã hội của các quốc gia.
Theo quan điểm của nghiên cứu sinh, nếu nhóm tác giả Belleti và cộng sự (2017) cung cấp đƣợc nhiều hơn những bằng chứng thực nghiệm cũng nhƣ kết hợp sử dụng phƣơng pháp định lƣợng trong phân tích ảnh hƣởng của CDĐL, các kết quả nghiên cứu có lẽ sẽ thực sự thuyết phục và đạt độ tin cậy rất cao. Do đó, trong đề tài của mình, nghiên cứu sinh quyết định vận dụng kết hợp cả hai phƣơng pháp nghiên cứu định tính và định lƣợng nhằm tăng tính thuyết phục và độ tin cậy cho luận án. Trong tuyển tập nghiên cứu về “Chứng nhận xuất xứ cho hàng thực phẩm: phát triển địa phương, chứng nhận toàn cầu” của Barjolle và cộng sự (2009), nhóm tác giả sử dụng dữ liệu trong một chƣơng trình nghiên cứu tại Châu Âu để đánh giá tác động của các hệ thống CDĐL theo lãnh thổ. Theo đó, 14 sản phẩm mang CDĐL đƣợc sử dụng để đối sánh với nhau, kết quả cho thấy những lợi ích về mặt kinh tế là động cơ duy nhất trong việc thực hiện các đề án bảo hộ sản phẩm mang CDĐL.
Tuy nhiên, nhóm tác giả cũng chỉ ra rằng việc thực hiện bảo hộ sản phẩm mang CDĐL có thể dẫn đến tình trạng độc quyền cao hơn trong việc tiêu thụ sản phẩm, điều này đồng nghĩa với việc những hộ sản xuất nhỏ đối mặt nguy cơ mất khả năng tiếp cận thị trƣờng cao hơn (Anders và Caswell, 2009). Đứng trƣớc thực trạng đó, nhóm tác giả đƣa ra kiến nghị về việc thiết lập bảo hộ CDĐL trong quá trình phát triển chung về nông nghiệp và nông thôn (Blakeney và cộng sự, 2012), cụ thể là cần định rõ vai trò của các tổ chức, cá nhân tham gia nhằm đảm bảo rằng CDĐL không thuộc về bất kỳ một công ty nào hay một cá nhân riêng lẻ nào. Thêm vào đó, các chính sách nông nghiệp, phát triển nông thôn, các quy định về vệ sinh an toàn thực phẩm và các chính sách chống độc quyền (Bicen và Malter, 2019) cũng cần đƣợc quan tâm hơn nữa nhằm phát huy những tác động tích cực của CDĐL đối với sự phát triển bền vững chung. Đồng thời, sau khi đăng ký, các quy tắc ứng xử giữa các bên cần đƣợc thiết lập chi tiết, tránh những vấn đề tiêu cực có thể phát sinh giữa các đơn vị cùng sử dụng tên, mẫu mã sản phẩm mang CDĐL.
Có thể nói, nghiên cứu của Barjolle và cộng sự (2009) là một trong những đề tài có độ rộng nghiên cứu tiêu 8 biểu với 14 mẫu sản phẩm mang CDĐL đặc trƣng, đảm bảo tính đại diện cao, là căn cứ để suy rộng tổng thể cho các nghiên cứu liên quan. Trong đề tài của mình, do những nguyên nhân khách quan và chủ quan nhƣ quy mô mẫu tổng thể của đối tƣợng nghiên cứu khiêm tốn, hạn chế về điều kiện thời gian-tài chính và khoảng cách địa lý nên nghiên cứu sinh quyết định chỉ tập trung nghiên cứu xuyên suốt đối với một loại sản phẩm mang CDĐL tiêu biểu nhất của địa bàn nghiên cứu. Cũng lựa chọn điểm nghiên cứu là Châu Âu, cụ thể là quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ, trong bài viết “Cách tiếp cận kinh tế học thể chế mới đối với chuỗi cung ứng sản phẩm mang Chỉ dẫn địa lý”, Bicen và Malter (2019) thực hiện xem xét những tác động kinh tế của CDĐL tới đối tƣợng là các nhà sản xuất. Theo đó, kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng việc sản xuất các sản phẩm mang CDĐL tại châu Âu trong nhiều trƣờng hợp đã góp phần phát triển nông thôn, mặc dù mức độ phát triển là không nhƣ nhau giữa các vùng và các loại sản phẩm khác nhau (Barcala và cộng sự, 2016).
Bên cạnh đó, nhóm tác giả cũng khẳng định sự cần thiết của việc bảo hộ theo quy chế nhằm đảm bảo các lợi ích kinh tế – xã hội chung phát sinh theo hƣớng có lợi cho cộng đồng ngƣời sản xuất và các tác nhân liên quan (Belletti và cộng sự, 2017; Folkeson, 2005). Để phân tích tác động của CDĐL đến phát triển nông thôn tại một số quốc gia Châu Âu, nhóm tác giả tập trung xem xét nhóm chỉ tiêu giá trị doanh thu và xuất khẩu của các sản phẩm mang CDĐL. Theo quan điểm của nghiên cứu sinh, việc xem xét ảnh hƣởng của sản phẩm mang CDĐL với phát triển nông thôn không nên chỉ dừng lại ở việc cải thiện doanh thu cho các hộ sản xuất hay mở rộng quy mô xuất khẩu cho các sản phẩm mang CDĐL (Anselm, 2010) mà còn là tác động tới cuộc sống của ngƣời dân địa phƣơng nói chung tại khu vực đang nghiên cứu. Đây là hƣớng nghiên cứu mà nghiên cứu sinh lựa chọn khai thác để kế thừa và tiếp tục thực hiện trong đề tài của mình.
Cùng mối quan tâm đến tác động của CDĐL đối với đời sống kinh tế - xã hội, nhóm tác giả Jena và Grote (2010) lựa chọn một quốc gia tại châu Á là Ấn Độ khi thực hiện nghiên cứu “Đánh giá tác động của việc canh tác lúa Basmati truyền thống ở tỉnh Uttarakhand, miền Bắc Ấn Độ: xem xét ý nghĩa đối với phát triển các Chỉ dẫn địa lý”. Với nghiên cứu này, nhóm tác giả đã góp phần làm rõ hơn những vấn đề lý luận liên quan đến CDĐL theo hai phƣơng diện: Thứ nhất, 9 CDĐL là một trong các loại giấy tờ thực nghiệm đầu tiên cung cấp bằng chứng về sản xuất sản phẩm mang CDĐL; Thứ hai, sản phẩm mang CDĐL góp phần làm tăng các phúc lợi (Bicen và Malter, 2019) cho các hộ gia đình tham gia sản xuất. Để thực hiện nghiên cứu, nhóm tác giả đã tiến hành khảo sát 300 hộ nông dân tại tỉnh Uttarakhand ở phía Bắc Ấn Độ. Các hộ gia đình tham gia phỏng vấn đƣợc lựa chọn theo phƣơng pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng bao gồm cả nông dân trồng lúa mang CDĐL (gạo Basmati) và nông dân trồng các cây trồng khác không mang CDĐL trong cùng khu vực.
Kết quả phân tích, đối sánh tổng lợi nhuận và lợi ích ròng cho thấy gạo Basmati đem lại lợi nhuận cao hơn nhiều so với những cây trồng khác (cây mía) không mang CDĐL ở cùng địa phƣơng (Barcala, 2016). Ngoài ra, cũng trong nghiên cứu này, nhóm tác giả đã chỉ ra một số yếu tố có ảnh hƣởng lớn đến hiệu quả sản xuất sản phẩm mang CDĐL (gạo Basmati) nhƣ khả năng tiếp cận chính sách và số lao động trong hộ gia đình. Nhiều nhà kinh tế đánh giá cao về độ tin cậy của nghiên cứu này khi nhóm tác giả vận dụng phƣơng pháp định tính là phƣơng pháp phân tích lợi ích biên và phƣơng pháp bình phƣơng nhỏ nhất (OLS) trong phân tích. Tuy nhiên, một số ý kiến cho rằng khi xem xét sự khác biệt giữa nhóm sản phẩm có CDĐL và không có CDĐL, để đảm bảo tính đồng nhất trong phân tích chỉ nên thực hiện đối với cùng một loại sản phẩm thay vì lựa chọn hai loại sản phẩm khác nhau.
Cùng quan điểm với luồng ý kiến trên, nghiên cứu sinh quyết định thực hiện nghiên cứu đối với cùng một loại sản phẩm là Chả mực, nhƣng có sự đối sánh giữa 2 nhóm đối ứng - nhóm mang CDĐL và nhóm không mang CDĐL trong cùng địa phƣơng.