Tổng quan nghiên cứu
Việt Nam đã đạt được những thành tựu vượt bậc trong công cuộc xóa đói giảm nghèo khi tỷ lệ nghèo toàn quốc giảm mạnh từ 58,1% năm 1993 xuống còn 19,5% năm 2004, giúp hơn 24 triệu người thoát nghèo và tiếp tục hạ xuống mức 13,4% vào năm 2008. Tuy nhiên, tại các vùng ven biển miền Trung, đặc biệt là tỉnh Thừa Thiên Huế với bờ biển dài 126 km ôm trọn hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai rộng gần 22.000 ha, bài toán giảm nghèo bền vững vẫn đối mặt với nhiều thách thức nan giải. Khu vực đầm phá là nơi sinh sống của khoảng 30 vạn cư dân (chiếm 30% dân số toàn tỉnh) với mật độ dân số cao 320 người/km², sinh kế phụ thuộc chủ yếu vào nguồn lợi thủy hải sản bấp bênh.
Huyện Phú Vang có 13 trên tổng số 20 xã, thị trấn nằm ven đầm phá Tam Giang với quy mô dân số năm 2009 đạt 177.200 người và mật độ 632 người/km². Mặc dù thu nhập bình quân đầu người toàn huyện năm 2010 ước đạt 15,20 triệu đồng/năm, nhưng tại các xã thuần ngư ven đầm phá, con số này chỉ đạt khoảng 6,94 triệu đồng/năm. Đời sống của ngư dân đối mặt với rủi ro thiên tai, ô nhiễm môi trường nước và cạn kiệt tài nguyên thủy sản.
Luận văn thạc sĩ kinh tế phát triển của tác giả Nguyễn Văn Thịnh, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. TS Nguyễn Trọng Hoài (Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh và Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, thực hiện năm 2010), tập trung phân tích thực trạng nghèo và định lượng các nhân tố ảnh hưởng đến xác suất rơi vào ngưỡng nghèo của cư dân 13 xã ven đầm phá Tam Giang trên địa bàn huyện Phú Vang giai đoạn 2005 - 2010. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học thực chứng giúp chính quyền địa phương ban hành các chính sách an sinh xã hội và chuyển đổi sinh kế phù hợp.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa lý thuyết nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối và khung phân tích nhân tố nghèo đói đa chiều của Ngân hàng Thế giới (WB, 2007).
Về mặt lý thuyết, Robert McNamara (1973) định nghĩa nghèo tuyệt đối là tình trạng con người phải đấu tranh sinh tồn ở ranh giới ngoài cùng của sự tồn tại do thiếu hụt nghiêm trọng các nhu cầu cơ bản như ăn, mặc, ở, y tế. Trong khi đó, Galbraith và các tổ chức quốc tế nhìn nhận nghèo tương đối là trạng thái mức sống của cá nhân hoặc hộ gia đình nằm dưới mức trung bình của cộng đồng sở tại. Tại Việt Nam, chuẩn nghèo giai đoạn 2006 - 2010 theo Quyết định 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định mức thu nhập từ 200.000 đồng/người/tháng trở xuống đối với khu vực nông thôn, tương đương với chuẩn 1,35 USD/ngày do Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB, 2008) công bố.
Khung phân tích của đề tài tiếp cận 4 nhóm khái niệm chính:
- Chi tiêu bình quân đầu người theo phương pháp ngũ phân vị (chia mẫu thành 5 nhóm từ thấp đến cao để xác định nhóm nghèo tương đối);
- Tỷ lệ phụ thuộc của hộ gia đình (tỷ số giữa người già, trẻ em, người không tạo ra thu nhập trên tổng nhân khẩu);
- Nguồn vốn sinh kế và tư liệu sản xuất (diện tích mặt nước nuôi trồng, đất canh tác, phương tiện ngư lưới cụ);
- Khả năng tiếp cận các nguồn lực tài chính chính thức và cơ sở hạ tầng dịch vụ công.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu kết hợp nguồn dữ liệu thứ cấp từ Niên giám thống kê huyện Phú Vang giai đoạn 2005 - 2009 và nguồn dữ liệu sơ cấp thu thập trực tiếp thông qua khảo sát thực địa năm 2010.
Về thiết kế chọn mẫu, tác giả đã tiến hành phát 400 phiếu khảo sát, thu về 340 phiếu, trong đó có 312 phiếu hợp lệ và tiến hành loại trừ 4 quan sát dị biệt để hoàn thiện bộ dữ liệu phân tích gồm 308 hộ gia đình tại 13 xã, thị trấn ven đầm phá Tam Giang thuộc huyện Phú Vang. Phương pháp lấy mẫu phi xác suất (thuận tiện theo cụm thôn, ấp) được áp dụng có tham khảo cấu trúc bảng hỏi Điều tra Mức sống Hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) của Tổng cục Thống kê, bảo đảm phỏng vấn trực tiếp chủ hộ hoặc vợ/chồng chủ hộ.
Về phương pháp phân tích, đề tài sử dụng thống kê mô tả kết hợp mô hình hồi quy Binary Logistic ước lượng bằng phương pháp Thích hợp cực đại (Maximum Likelihood Estimation - MLE) để xác định các yếu tố tác động đến xác suất nghèo. Biến phụ thuộc nhận giá trị 1 nếu hộ thuộc nhóm nghèo nhất theo phân vị chi tiêu và nhận giá trị 0 nếu không nghèo. Lý do lựa chọn Binary Logistic là phương pháp này giải quyết triệt để vấn đề biến phụ thuộc nhị phân, cho phép tính toán tỷ số chênh lệch (Odds Ratio) và tác động biên của từng biến độc lập (như giới tính, tuổi, học vấn chủ hộ, số người phụ thuộc, tình trạng việc làm, diện tích mặt nước, số tiền vay tín dụng) mà các mô hình tuyến tính OLS thông thường không đáp ứng được.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Phân tích số liệu từ 308 hộ khảo sát ven đầm phá Tam Giang phản ánh những phát hiện quan trọng:
- Phân hóa mức sống và tỷ lệ nghèo tương đối cao: Theo phương pháp ngũ phân vị dựa trên chi tiêu bình quân đầu người, nhóm nghèo chiếm 22%, nhóm khá nghèo (cận nghèo) chiếm tới 43%, nhóm trung bình chiếm 25%, nhóm khá giàu chiếm 6% và nhóm giàu chỉ chiếm vỏn vẹn 3%. Ba địa phương có tỷ lệ nghèo và cận nghèo tập trung cao nhất là xã Vinh Hà, thị trấn Thuận An và xã Phú Mỹ. Tỷ lệ cận nghèo lên đến 43% cho thấy nguy cơ tái nghèo của vùng là đặc biệt nghiêm trọng khi gặp biến cố thiên tai, dịch bệnh.
- Áp lực nhân khẩu và gánh nặng phụ thuộc: Quy mô hộ gia đình trung bình ở vùng nghiên cứu đạt từ 5 đến 6 người/hộ, trong đó các hộ nghèo luôn có quy mô nhân khẩu và số người ăn theo lớn hơn đáng kể so với nhóm khá giả. Tỷ lệ người sống phụ thuộc (trẻ em đang đi học, người già yếu) tương quan thuận chiều có ý nghĩa thống kê với xác suất rơi vào nghèo đói.
- Học vấn thấp và rào cản việc làm phi nông nghiệp: Gần 90% lao động thuộc nhóm nghèo chỉ có trình độ tiểu học hoặc trung học cơ sở (số năm đi học bình quân dưới 6 năm). Trình độ học vấn của chủ hộ càng cao thì xác suất thoát nghèo càng lớn. Ngược lại, chủ hộ làm việc thuần túy trong lĩnh vực khai thác nông lâm thủy sản có xác suất nghèo cao hơn hẳn so với chủ hộ có việc làm trong khu vực phi nông nghiệp hoặc dịch vụ.
- Chênh lệch sở hữu tư liệu sản xuất và tiếp cận tín dụng: Mặc dù kinh tế nông lâm thủy sản chiếm 43,82% cơ cấu kinh tế huyện Phú Vang năm 2010, diện tích mặt nước nuôi trồng và đất canh tác phân bổ rất bất bình đẳng. Hộ nghèo chỉ tiếp cận được các khoản vay ưu đãi nhỏ với mức bình quân từ 2,8 đến 8,8 triệu đồng/hộ, trong khi hộ khá giàu tiếp cận các gói tín dụng thương mại lên tới 15 đến 28,7 triệu đồng/hộ để đầu tư phương tiện lớn.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân cốt lõi khiến cư dân đầm phá Tam Giang luẩn quẩn trong nghèo đói bắt nguồn từ sự suy thoái nghiêm trọng của hệ sinh thái mặt nước và sự chuyển dịch phương thức đánh bắt mang tính hủy diệt. Số lượng tàu thuyền khai thác xa bờ của huyện giảm mạnh từ 3.732 chiếc năm 2006 xuống còn 929 chiếc năm 2009, trong khi thuyền nhỏ đánh bắt nội đầm tăng từ 174 lên 883 chiếc. Đáng báo động, việc sử dụng ngư cụ lừ xếp có nguồn gốc ngoại nhập đã bùng nổ từ 30 hộ với 100 chiếc năm 2005 lên tới 2.399 hộ với 133.988 chiếc vào cuối năm 2008, mắt lưới bị thu hẹp chỉ còn 0,8 - 1,2 cm khiến nguồn lợi cá tôm non bị tận diệt.
Bên cạnh đó, môi trường nuôi trồng thủy sản nước lợ với hơn 5.000 ha hồ tôm đã làm biến đổi dòng chảy tự nhiên, biên độ độ mặn dao động bất lợi từ 0,1 đến 33‰ và độ pH từ 6,8 đến 8,0 cùng với dư lượng hóa chất gây rủi ro dịch bệnh diện rộng. Khi mùa màng thất bát, người dân không có vốn tích lũy, buộc phải bán hoặc cầm cố phương tiện, rơi vào bẫy nợ nần.
Khi trình bày các phát hiện này trong các báo cáo khoa học, dữ liệu thống kê chi tiêu nên được biểu diễn thông qua biểu đồ phân phối chi tiêu ngũ phân vị kết hợp biểu đồ hình tròn về cơ cấu kinh tế 3 ngành (Nông lâm thủy sản chiếm 43,82%, Dịch vụ 30,88%, Công nghiệp - Xây dựng 25,30% năm 2010). Kết quả hồi quy Binary Logistic nên được hiển thị dưới dạng bảng tổng hợp hệ số hồi quy Beta, hệ số Odds Ratio và mức tác động biên để người đọc dễ dàng so sánh độ nhạy của biến số học vấn và quy mô vốn vay lên xác suất giảm nghèo. Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các công trình nghiên cứu của Nguyễn Trọng Hoài (2005) tại Ninh Thuận, Bình Phước và nghiên cứu của Đỗ Thiên Kính (2001) về tác động tiêu cực của quy mô hộ đông con và thiếu vốn tín dụng chính thức.
Đề xuất và khuyến nghị
Dựa trên kết quả định lượng của mô hình hồi quy, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm thúc đẩy giảm nghèo bền vững tại các xã ven đầm phá Tam Giang:
- Chuyển đổi sinh kế và cơ cấu lại ngành thủy sản: Ủy ban nhân dân huyện Phú Vang phối hợp Chi cục Thủy sản tỉnh Thừa Thiên Huế cần ban hành quy định cấm triệt để và tịch thu 100% ngư cụ hủy diệt (lừ xếp mắt lưới dưới 1,2 cm) trong giai đoạn 2011 - 2013; đồng thời hỗ trợ kinh phí chuyển đổi nghề cho 25% - 30% hộ ngư dân đầm phá sang phát triển mô hình nuôi xen ghép sinh thái bền vững (tôm, cua, cá kình) và du lịch cộng đồng sinh thái đầm phá trước năm 2015.
- Mở rộng hạn mức và linh hoạt hóa kênh tín dụng chính sách: Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Phú Vang cần nâng mức cho vay tín chấp đối với hộ nghèo và cận nghèo từ mức bình quân dưới 10 triệu đồng hiện nay lên tối thiểu 20 - 30 triệu đồng/hộ, kéo dài thời gian hoàn vốn lên 3 - 5 năm; mục tiêu đạt trên 80% hộ nghèo được tiếp cận vốn sản xuất trong giai đoạn 2012 - 2015.
- Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đào tạo nghề: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Phú Vang chủ trì tổ chức các lớp đào tạo nghề ngắn hạn phi nông nghiệp và kỹ thuật nuôi thủy sản tiên tiến cho ít nhất 1.500 lao động nông thôn mỗi năm; thực hiện chính sách miễn giảm học phí cho con em ngư dân vạn đò tái định cư nhằm nâng số năm đi học trung bình lên trên 9 năm vào năm 2020.
- Quy hoạch không gian mặt nước và phục hồi hệ sinh thái đầm phá: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Thừa Thiên Huế cùng Ban Quản lý Đầm phá rà soát, cắt giảm diện tích đắp đập nuôi tôm tự phát trên 5.000 ha mặt nước, khơi thông dòng chảy tại các cửa biển Thuận An, Tư Hiền; trao quyền tự quản ngư trường cho các Chi hội Nghề cá cơ sở để bảo vệ nguồn lợi chung.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nghiên cứu mang giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn sâu sắc, phù hợp cho 4 nhóm đối tượng chính:
- Cán bộ lãnh đạo và cơ quan quản lý nhà nước địa phương: Ủy ban nhân dân huyện Phú Vang, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Thừa Thiên Huế có thể sử dụng các số liệu thực chứng từ 308 hộ khảo sát để xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm và phân bổ ngân sách mục tiêu quốc gia giảm nghèo chính xác.
- Các tổ chức phi chính phủ và định chế tài chính phát triển: Ngân hàng Chính sách Xã hội, Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) và các dự án phát triển sinh kế ven biển có thể ứng dụng mô hình xác suất nghèo để thiết kế các gói tài trợ vi mô và chương trình thích ứng biến đổi khí hậu.
- Nhà nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học: Giảng viên và học viên chuyên ngành Kinh tế phát triển, Kinh tế nông nghiệp, Xã hội học có thể tham khảo khung lý thuyết, cách vận dụng mô hình Binary Logistic và phương pháp phân tích ngũ phân vị chi tiêu làm tài liệu nghiên cứu chuẩn mực.
- Ban quản trị Hợp tác xã và Chi hội Nghề cá cơ sở: Các cấp hội nghề cá tại 13 xã ven đầm phá Tam Giang có thể nắm bắt nguyên nhân sâu xa của việc suy thoái ngư trường để vận động cộng đồng loại bỏ ngư cụ tận diệt và liên kết bảo hiểm sản xuất.
Câu hỏi thường gặp
Tại sao nghiên cứu lại chọn tiêu chí chi tiêu bình quân đầu người thay vì thu nhập để phân tích nghèo đói?
Trong thực tế điều tra nông thôn, người dân thường có xu hướng khai báo thiếu hoặc không nhớ chính xác các nguồn thu nhập bấp bênh, mùa vụ. Chi tiêu bình quân đầu người phản ánh chính xác hơn mức thụ hưởng thực tế, khả năng chi trả cho các nhu cầu dinh dưỡng, sinh hoạt tối thiểu và hạn chế tối đa sai số đo lường trong mẫu khảo sát 308 hộ.
Vì sao hai biến Dân tộc và Khoảng cách đến đường giao thông bị loại khỏi mô hình hồi quy Binary Logistic?
Kết quả khảo sát thực tế tại 13 xã ven đầm phá huyện Phú Vang cho thấy 100% hộ dân thuộc diện điều tra đều là người Kinh và các hộ dân đều sinh sống tập trung trong các khu dân cư, cụm tái định cư đã được quy hoạch giao thông đồng bộ. Việc không có sự biến thiên giữa các quan sát khiến hai biến này không mang ý nghĩa thống kê.
Ngư cụ lừ xếp tác động như thế nào đến nguy cơ nghèo đói của cư dân vùng đầm phá?
Sự bùng phát của 133.988 chiếc lừ xếp với mắt lưới siêu nhỏ (0,8 - 1,2 cm) trong giai đoạn 2005 - 2008 đã tận diệt các loài cá, tôm non trong đầm phá Tam Giang. Việc cạn kiệt nguồn lợi sinh học làm sụt giảm nghiêm trọng năng suất đánh bắt tự nhiên, đẩy phần lớn ngư dân đánh bắt gần bờ vào cảnh thua lỗ và tái nghèo.
Quy mô vốn vay tín dụng có vai trò quyết định ra sao trong việc giúp hộ dân thoát nghèo?
Mô hình hồi quy chứng minh số tiền vay có mối quan hệ nghịch chiều có ý nghĩa với xác suất nghèo. Khoản vay nhỏ dưới 5 - 8 triệu đồng chỉ đủ chi tiêu sinh hoạt ngắn hạn, trong khi các khoản vay từ 20 - 30 triệu đồng trở lên mới tạo đủ đòn bẩy vốn để ngư dân nâng cấp ngư lưới cụ, chuyển đổi nuôi trồng thủy sản và thoát nghèo bền vững.
Mô hình tổ chức Vạn chài truyền thống có ý nghĩa gì đối với công tác giảm nghèo hiện nay?
Tổ chức Vạn chài tập hợp 40 đến 70 hộ gia đình cùng nghề trên sông nước, cố kết chặt chẽ theo huyết thống và luật tục. Hiểu rõ cấu trúc Vạn giúp chính quyền tránh tư duy áp đặt hành chính cơ học khi thực hiện tái định cư lên bờ, đồng thời phát huy vai trò tự quản của Chi hội Nghề cá trong việc bảo vệ ngư trường chung.
Kết luận
Luận văn thạc sĩ đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu với 5 điểm nhấn trọng tâm:
- Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý thuyết về nghèo đa chiều, nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối và khung phân tích sinh kế vùng thủy vực ven biển.
- Phân tích chi tiết hiện trạng nghèo tại 13 xã ven đầm phá Tam Giang huyện Phú Vang với 22% hộ nghèo và 43% hộ cận nghèo theo phương pháp ngũ phân vị chi tiêu.
- Ứng dụng thành công mô hình kinh tế lượng Binary Logistic trên bộ dữ liệu 308 hộ để lượng hóa tác động của các nhân tố: quy mô phụ thuộc, học vấn chủ hộ, ngành nghề và vốn vay tín dụng đến xác suất nghèo.
- Làm rõ nguyên nhân sinh thái - kinh tế sâu xa dẫn đến bẫy nghèo đói từ việc suy thoái ngư trường và sự bùng phát của ngư cụ tận diệt.
- Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ về sinh kế, tín dụng, giáo dục và quy hoạch mặt nước có lộ trình thực hiện rõ ràng cho giai đoạn tiếp theo.
Nghiên cứu là tài liệu tham khảo giá trị cho các nhà hoạch định chính sách kinh tế - xã hội tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Để tiếp cận trọn vẹn mô hình kinh tế lượng và hệ số hồi quy chi tiết, độc giả và các nhà nghiên cứu hãy tham khảo toàn văn luận văn thạc sĩ chuyên ngành Kinh tế phát triển của tác giả Nguyễn Văn Thịnh.