Chương 1: Tổng quan về BHXH và các nghiên cứu liên quan: Chương này nhằm mục đích giới thiệu khái quát về BHXH và những nghiên cứu trước đây liên quan đến hành vi đóng BHXH của DN bao gồm các phần sau: Khái niệm về BHXH và các khái niệm khác có liên quan đến BHXH, Quỹ BHXH, Nợ BHXH; kinh nghiệm quản lý BHXH của một số nước có phương thức quản lý giống Việt Nam và sau cùng là kết quả từ những nghiên cứu trước có liên quan đến hành vi đóng BHXH của DN rút ra một số nhân tố liên quan đến hành vi đóng BHXH đề xuất vào mô hình nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu: Chương này giới thiệu hai học thuyết chính sử dụng trong đề tài nghiên cứu là Thuyết hành động hợp lý và Thuyết hành vi dự định, từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu sẽ sử dụng trong đề tài; tiến hành phân tích các nhân tố tác động đến hành vi đóng BHXH của DN; và đề xuất các giả thuyết của mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trình bày phương pháp nghiên cứu của đề tài bao gồm thiết kế mô hình nghiên cứu, xây dựng thang đo, bảng hỏi điều tra khảo sát, thu thập dữ liệu, số lượng mẫu, khái quát về phân tích nhân tố và các mô hình kiểm định đề ra. Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương này trình bày thực trạng tham gia đóng BHXH trên địa bàn Quận 8, thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2005 – 2014; mô tả thông tin mẫu nghiên cứu; tiến hành đánh giá độ tin cậy của các thang đo thông qua hệ số Cronbach’s Alpha; và phân tích hồi quy nhằm xác định mức độ tương quan của các nhân tố, kiểm định các biến định tính có liên quan như thế nào đến hành vi đóng BHXH.
Sau cùng là phân tích các nhân tố dựa vào kết quả hồi quy. Chương 5 : Gợi ý chính sách Chương này nhằm tóm lược lại các kết quả chính của chương 4 và đưa ra những gợi ý chính sách phù hợp với thực tiễn nghiên cứu. TỔNG QUAN VỀ BHXH VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 1. Khái niệm về BHXH và các khái niệm khác có liên quan đến BHXH 1.
Khái niệm chung về BHXH Trong cuộc sống có những rủi ro không thể lường trước được hoặc cá nhân đã chủ động dự phòng các rủi ro thì cũng không thể đáp ứng được tất cả.Vì vậy cần có một biện pháp dự phòng và khắc phục tổng thể lâu dài, hiệu quả nhất và BHXH là biện pháp phòng chống khắc phục rủi ro mang lại hiệu quả nhất đáp ứng được các yêu cầu đặt ra. Theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO): BHXH là sự bảo vệ của cộng đồng xã hội với các thành viên của mình thông qua sự huy động các nguồn đóng góp vào quỹ BHXH để trợ cấp trong các trường hợp ốm đau, tai nạn, thương tật, già yếu, thất nghiệp đồng thời chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con để ổn định đời sống của các thành viên và bảo đảm an toàn xã hội. Luật BHXH ( số 71/2006/QH11 ngày 29/06/2011) quy định : BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ bảo hiểm xã hội. Vậy có thể hiểu BHXH là một quỹ chung mục đích để chi trả cho người lao động và thân nhân của họ trong trường hợp họ bị mất thu nhập do suy giảm khả năng lao động trên cơ sở những người lao động này cùng đóng góp vào quỹ chung.
Đặc điểm BHXH BHXH mang tính nhân đạo, cộng đồng và nhân văn sâu sắc: BHXH là hoạt động phục vụ an sinh xã hội, mục tiêu không phải là lợi nhuận thể hiện qua các chế độ trợ cấp của BHXH nhằm bảo vệ người lao động những lúc gặp khó khăn về kinh tế, khi bị giảm thu nhập do ốm đau, thai sản, hết tuổi lao động. Và những lúc như thế người tham gia BHXH được chi trả một khoản kinh phí đảm bảo cuộc sống của bản thân và gia đình nhờ nguồn quỹ BHXH. BHXH là cơ quan thuộc chính phủ có nhiệm vụ tổ chức thực hiện chính sách BHXH, BHYT cho người lao động và nhân dân trên phạm vi cả nước, bao gồm các chế độ: ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất, khám, chữa bệnh BHYT, BHTN. Mục đích lớn của BHXH là đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình yên tâm sản xuất và không phải lo lắng đến các rủi ro bất ngờ.
Đồng thời góp phần hạn chế và điều hòa mâu thuẫn giữa người sử dụng lao động và người lao động. Tạo môi trường làm việc ổn định, tăng năng suất và hiệu quả lao động góp phần thúc đẩy phát triển đất nước. Chức năng BHXH BHXH được xây dựng với nhiều chức năng, trong có có thể kể đến 3 chức năng chính là: + BHXH bảo đảm bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập của NLĐ; Luật BHXH quy định nếu NLĐ và NSDLĐ đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng góp thì họ có quyền được nhận trợ cấp khi rủi ro trong phạm vi được quy định phát sinh làm giảm hoặc mất thu nhập của họ. Tham gia BHXH còn giúp NLĐ nâng cao hiệu quả trong chi tiêu cá nhân, giúp họ tiết kiệm những khoản nhỏ, đều đặn có nguồn dự phòng cần thiết chi dùng khi suy giảm khả năng lao động, góp phần ổn định cuộc sống cho bản thân và cho gia đình.
3 + BHXH phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH; BHXH phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia, về nguyên tắc, để thực hiện được hình thức này NLĐ và NSDLĐ phải đóng một tỷ lệ tương quan với thu nhập của NLĐ và quỹ lương vào một quỹ chung. Và trên thực tế, chỉ có một số NLĐ gặp rủi ro và được quỹ chi trả. Như vậy, theo quy luật số đông bù số ít, BHXH thực hiện phân phối lại thu nhập giữa những người may mắn, ít gặp rủi ro cho những người không may mắn, gặp rủi ro trong cuộc sống. Đó có thể là sự phân phối lại thu nhập theo chiều ngang giữa những người khỏe mạnh với những người ốm đau, tai nạn, tàn tật; giữa những người có cơ may về việc làm cho những người không may bị thất nghiệp; có thể là sự phân phối lại theo chiều dọc giữa những người trẻ với những người già.
Như vậy, thu nhập của NLĐ được phân phối lại theo nhiều chiều, trên cả bình diện không gian và thời gian, góp phần đảm bảo công bằng xã hội. + BHXH thúc đẩy gắn bó lợi ích giữa NLĐ với NSDLĐ, góp phần kích thích NLĐ hăng hái sản xuất, nâng cao năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội; Trên thực tế NLĐ và NSDLĐ vốn có những mâu thuẫn nội tại khách quan về tiền lương, tiền công và thời gian lao động. Thông qua BHXH, những mâu thuẫn đó sẽ được điều hòa, giải quyết. Nhờ đó mà hai bên hiểu nhau hơn và gắn bó lợi ích với nhau hơn.
Nhờ có BHXH NLĐ yên tâm, gắn bó tận tình với công việc, nơi làm việc. Từ đó, tích cực lao động sản xuất, nâng cao năng xuất lao động và hiệu quả kinh tế. Chức năng này biểu hiện như một đòn bẩy kinh tế kích thích NLĐ nâng cao năng suất lao động cá nhân và nâng cao năng suất lao động xã hội. Sơ lược về Quỹ BHXH + Khái niệm: Quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập với ngân sách nhà nước, được hình thành từ đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và có sự hỗ trợ của nhà nước.
Quỹ BHXH là một quỹ tiền tệ tập trung, được hình thành từ sự đóng góp của các bên tham gia BHXH và các nguồn thu khác, sử dụng để bù đắp hoặc thay thế một phần thu nhập cho người tham gia bảo hiểm khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm suy giảm sức khoẻ, mất khả năng lao động, mất việc làm, chết; nhằm ổn định đời sống cho họ và gia đình họ và chi phí cho các hoạt động nghiệp vụ BHXH, góp phần đảm bảo an toàn xã hội và phát triển kinh tế của đất nước. Như vậy quỹ BHXH là một quỹ tiêu dùng, đồng thời là một quỹ dự phòng, nó vừa mang tính kinh tế, vừa mang tính xã hội rất cao, và là điều kiện, cơ sở vật chất quan trọng nhất đảm bảo cho toàn bộ hệ thống BHXH tồn tại và phát triển. + Đặc trưng Quỹ BHXH Quỹ bảo hiểm xã hội mang đầy đủ những đặc trưng cơ bản nhất của một quỹ, ngoài ra do đặc thù của BHXH mà quỹ BHXH có những đặc trưng riêng sau: - Quỹ BHXH là quỹ an toàn về tài chính: Nghĩa là, phải có một sự cân đối giữa nguồn vào và nguồn ra của quỹ BHXH. Chức năng của bảo hiểm xã hội là đảm bảo an toàn về thu nhập cho người lao động và để thực hiện chức năng này, đến lượt nó, BHXH phải tự bảo vệ mình trước nguy cơ mất an toàn về tài chính.
Điều đó lý giải tại sao trong điều 40 Điều lệ BHXH nước ta quy 5 định “ Quỹ bảo hiểm xã hội được thực hiện các biện pháp để bảo tồn giá trị và tăng trưởng theo quy định của chính phủ ”. - Tính tích luỹ: Quỹ BHXH là “của để dành” của người lao động phòng khi ốm đau, tuổi già. và đó là công sức đóng góp của cả quá trình lao động của người lao động. - Quỹ BHXH vừa mang tính hoàn trả vừa mang tính không hoàn trả.
Tính hoàn trả thể hiện ở chỗ, mục đích của việc thiết lập quỹ BHXH là để chi trả trợ cấp cho người lao động khi họ không may gặp các rủi ro dẫn đến mất hay giảm thu nhập. Do đó, người lao động là đối tượng đóng góp đồng thời cũng là đối tượng nhận trợ cấp. Tính không hoàn trả thể hiện ở chỗ, mặc dù nguyên tắc của BHXH là có đóng- có hưởng, đóng ít- hưởng ít, đóng nhiều- hưởng nhiều nhưng như vậy không có nghĩa là những người có mức đóng góp như nhau sẽ chắc chắn được hưởng một khoản trợ cấp như nhau. Trong thực tế, cùng tham gia BHXH nhưng có người được hưởng nhiều lần, có người được hưởng ít lần (với chế độ ốm đau), thậm chí không được hưởng (chế độ thai sản).
Hành vi đóng BHXH của DN (NSDLĐ) 1.