CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ LƯỢNG KHÍ THẢI CO2 1.1 Khái quát về tăng trưởng kinh tế 1.1 Khái niệm về tăng trưởng kinh tế Cùng với sự phát triển của kinh tế học và sự xuất hiện của các mô hình tăng trưởng, khái niệm về tăng trưởng kinh tế cũng dần được hoàn thiện. North và Robert Paul Thomas (1937) cho rằng “Tăng trưởng kinh tế xảy ra nếu sản lượng tăng nhanh hơn dân số”. Theo Perkins và Cộng sự (2006, tr. 37) “Tăng trưởng kinh tế liên quan đến sự gia tăng thu nhập quốc dân trên đầu người - sự gia tăng giá trị của hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra trên mỗi đầu người trong một nền kinh tế, sau khi đã điều chỉnh yếu tố lạm phát.
Đây là một thước đo mục tiêu tương đối về năng lực kinh tế. Thước đo này đã được công nhận rộng rãi và có thể được tính với mức độ chính xác khác nhau đối với hầu hết các nền kinh tế”. Sự gia tăng mức sản xuất mà một nền kinh tế tạo ra theo thời gian cũng được coi là một định nghĩa khác về tăng trưởng kinh tế. (Nguyễn Văn Công và cộng sự, 2011, tr.
Qua những định nghĩa trên đây, có thể thấy tăng trưởng kinh tế được hiểu đơn thuần là sự thay đổi về lượng của nền kinh tế. Tuy nhiên, các lý thuyết về tăng trưởng sau này lại đề cập nhiều hơn đến sự thay đổi cả về chất của nền kinh tế. Từ giữa thập kỷ 90 của thế kỷ 20, các Báo cáo về phát triển con người của UNDP đã đưa ra các khải niệm về tăng trưởng mất gốc, tăng trưởng không có tương lai… nhằm cảnh báo về thực trạng tăng trưởng mà không gắn với việc phân phối các thành quả của tăng trưởng, đồng thời đưa ra khái niệm “tăng trưởng công bằng”2. Điểm chung của các báo cáo này là nhấn mạnh đến tăng trưởng cần gắn với chất lượng.
2 UNDP (1998), Báo cáo phát triển con người. 9 Theo Chu Văn Cấp (2011): “Trong nền kinh tế thị trường, tăng trưởng kinh tế về mặt lượng được đánh giá chủ yếu thông qua các chỉ tiêu giá trị phản ánh tăng trưởng theo hệ thống tài khoản quốc gia bao gồm: Tổng giá trị sản xuất (GO)3, tổng sản phẩm quốc nội (GDP)4, tổng sản phẩm quốc dân (GNP)5, tổng thu nhập quốc dân (GNI)6; trong đó, GDP thường là chỉ tiêu quan trọng nhất và được sử dụng phổ biến nhất. Tăng trưởng kinh tế về mặt chất lượng, đó là sự biến đổi về quy mô, cơ cấu, chất lượng của nên kinh tế gắn với việc đảm bảo tiến bộ, công bằng xã hội, sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường… đây cũng là ba nhóm chỉ tiêu trụ cột của kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia. Chất lượng tăng trưởng kinh tế được biểu hiện ở sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững của nền kinh tế, thể hiện trên các mặt sau: (1) Tốc độ tăng trưởng cao và được duy trì trong một thời gian dài, (2) Nền kinh tế phát triển có hiệu quả thể hiện ở năng suất lao động cao, hiệu quả sử dụng vốn cao, sức cạnh tranh của nền kinh tế cao, (4) Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tiến bộ, hiện đại, (4) Tăng trưởng kinh tế gắn liện với việc giải quyết các vấn đề xã hội, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái”.
Theo cách hiểu rộng, chất lượng tăng trưởng tiến sát với quan điểm về phát triển bền vững, trong đó chú trọng tới các thành tố kinh tế, xã hội và môi trường. Theo đó, các quốc gia không nên chỉ chú trọng tới tốc độ tăng trưởng mà còn phải tìm cách để giữ vững tốc độ tăng trưởng cao đó thông qua nâng cao chất lượng tăng trưởng (giảm nghèo, đầu tư cho giáo dục, quản lý). 3 Tổng giá trị sản xuất (Gross Output - GO): Là chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất (giá trị của những sản phẩm vật chất và dịch vụ của toàn bộ nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định (thường là một năm). Chỉ tiêu này được xác định bằng tổng cộng giá trị của từng ngành kinh tế, tahnhf phần kinh tế.
Tổng giá trị sản xuất gồm các yêu tố: Chi phí trung gian và giá trị mới tăng thêm. 4 Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Products - GDP) hay tổng sản phẩm trong nước là giá trị tính bằng tiền của tất cả các sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất, tạo ra trong phạm vi một nền kinh tế trong một thời gian nhất định ( thường là một năm tài chính). 5 Tổng sản phẩm quốc gia (Gross National Products, GNP) là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất, tạo ra bởi công dân một nước trong một thời gian nhất định, thường là một năm. Tổng sản phẩm quốc dân bằng tổng sản phẩm quốc nội cộng với thu nhập ròng.
6 Thu nhập quốc dân (Gross National Income, GNI) là chỉ số xác định tổng thu nhập của một quốc gia trong một thời gian nhất định, thường là một năm. Thu nhập quốc dân bao gồm: chi tiêu dùng cá nhân, tổng đầu tư của dân cư, chi tiêu dùng của chính phủ, thu nhập thuần từ tài sản ở nước ngoài (sau khi trừ các thuế), và tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu và trừ đi hai khoản: tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ nhập khẩu và thuế gián thu. 10 Vinod và cộng sự (2000) đã đưa ra hai khía cạnh của chất lượng tăng trưởng đó là duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong dài hạn và tăng trưởng phải đóng góp và cải thiện bền vững phúc lợi xã hội, cụ thể là phân phối thành quả của tăng trưởng và cải thiện mức sống. Quan điểm này thể hiện sự tiến bộ trong cách nhìn nhận về tăng trưởng kinh tế.
Theo đó, tác giả đưa ra khái niệm vê tăng trưởng kinh tế dưới góc độ của bài nghiên cứu như sau: “Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng hợp lý và bền vững về sản lượng và quy mô của nền kinh tế đi cùng với đảm bảo tiến bộ, công bằng xã hội, chất lượng cuộc sống”. Trong khái niệm được đề xuất, tăng trưởng thể hiện ở sự gia tăng quy mô nền kinh tế nhưng không cần ở mức quá cao mà chỉ cần ở mức hợp lý nhưng bền vững trong dài hạn. Chính sách tăng trưởng không nên quá cực đoan về việc gia tăng tốc độ tăng trưởng mà bất chấp các hậu quả về bất bình đẳng trong phân phối thu nhập và các hậu quả về môi trường và xã hội. Tăng trưởng chú trọng việc phân phối các thành quả của nó một cách bình đẳng, cải thiện đời sống vật chất bắt đầu từ nhóm người nghèo ngay trong quá trình tăng trưởng.2 Nguồn gốc tăng trưởng Nhà kinh tế học cổ điển Adam Smith (1723-1790), người đầu tiên đưa ra lý luận về vai trò của tích lũy vốn với nền kinh tế, khẳng định vai trò của tích lũy vốn đối với tăng trưởng kinh tế thông qua việc mở rộng sản xuất, đẩy mạnh phân công lao động.Ricardo (1772-1823), người được coi là tác giả kinh tế học cổ điển xuất sắc nhất, đã đưa ra lý luận về ba yếu tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế là đất đai, lao động và vốn.
Trong ba yếu tố kể trên, đất đai là yếu tố quan trọng nhất và cũng chính là giới hạn của tăng trưởng. Tuy nhiên, ông cũng cho rằng đầu tư có thể làm giảm giới hạn này bằng cách đầu tư sang lĩnh vực công nghiệp để xuất khẩu và mua lương thực rẻ hơn từ nước ngoài, đầu tư cho tăng trưởng ngành công nghiệp và nông nghiệp dẫn đến làm giảm sự giới hạn tăng trưởng chung. Maynard Keynes xuất bản tác phẩm “Lý thuyết chung về việc làm, lãi suất và tiền tệ” đã đánh dấu sự ra đời của một học thuyết kinh tế mới, trong 11 đó nhấn mạnh tới vai trò của chính sách kinh tế đối với tăng trưởng. Keynes cho rằng muốn thoát khỏi khủng hoảng và thất nghiệp, nhà nước phải thực hiện điều tiết bằng các chính sách kinh tế nhằm tăng cầu tiêu dùng; đầu tư có ảnh hưởng đến tổng cầu, và qua đó quyết định sản lượng của nền kinh tế.
Dựa vào tư tưởng của Keynes, hai nhà nhà kinh tế học Harrod và Domar đã đưa ra mô hình giải thích mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng kinh tế với yếu tố tiết kiệm và đầu tư, coi tích lũy tư bản là động lực của tăng trưởng. Theo đó tiết kiệm là nguồn gốc của đầu tư, đầu tư làm gia tăng vốn sản xuất, gia tăng vốn sản xuất sẽ trực tiếp gia tăng sản lượng đầu ra. Đầu tư góp phần làm gia tăng nguồn lực sản xuất (thiết bị, máy móc), qua đó nâng cao sản lượng. Tuy nhiên, nhược điểm của mô hình này là coi tốc độ tăng trưởng chỉ được xác định qua tỉ lệ tiết kiệm.
Nếu gọi Y là sản lượng đầu ra năm, tốc độ tăng trưởng kinh tế là g Nếu gọi s là tỷ lệ tiết kiệm/GDP và tổng tiết kiệm trong năm là S: Về lý thuyết, tiết kiệm là nguồn gốc của đầu tư nên đầu tư luôn bằng tiết kiệm ( ) Đầu tư là cơ sở tạo ra vốn sản xuất nên Gọi ICOR là tỷ lệ gia tăng giữa vốn và sản lượng đầu ra ta sẽ có: hay (k càng nhỏ thì hiệu quả đầu tư càng cao) vì Do đó chúng ta có: 12 Năm 1956, Solow đã xây dựng lên mô hình tăng trưởng mang những ý tưởng mới, còn được gọi là mô hình tăng trưởng Solow. Nếu như mô hình Harrod-Domar chỉ xét đến vai trò của vốn sản xuất (thông qua tiết kiệm và đầu tư) đối với tăng trưởng, thì mô hình Solow đã đưa thêm yếu tố lao động và tiến bộ công nghệ vào phương trình tăng trưởng đồng thời xét tới yếu tố năng suất cận biên giảm dần của đầu tư. Xét hàm sản xuất Cobbs-Douglas giản đơn: trong đó Y, K, L lần lượt là sản lượng, vốn và lao động của nền kinh tế, giả định hàm sản xuất không thay đổi theo qui mô. Suy ra: với y=Y/L (thu nhập bình quân lao động) và k=K/L (mức vốn bình quân lao động).
Vì năng suất cận biên của vốn giảm dần nên khi k tăng thì y tăng chậm dần. Từ mô hình Harrod-Domar, ta đã có I=sY với I là đầu tư của nền kinh tế, s là tỷ lệ tiết kiệm. Nếu chia cả 2 vế phương trình cho L, ta được mức đầu tư bình quân lao động i bằng: i = s.