CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA LẠM PHÁT VÀ TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 1. Một số khái niệm cơ bản. Tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế (Economic Growth) là thuật ngữ chỉ sự biến đổi kinh tế theo chiều hướng tích cực. Theo Wikipedia định nghĩa “Tăng trưởng kinh tế là gì?” thì: “Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản lượng quốc dân (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu người (PCI) trong một thời gian nhất định.” Đó là sự mở rộng quy mô về lượng kết quả đầu ra của nền kinh tế, là sự gia tăng về mặt tổng sản phẩm quốc dân (GNP) và tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong một thời kỳ nhất định.
Tăng trưởng kinh tế thực chất đơn thuần là sự lớn mạnh của nền kinh tế về mặt số lượng nhưng vẫn nằm trong khuôn khổ giữ nguyên về cơ cấu và chất lượng. Để biểu thị sự tăng trưởng kinh tế, người ta dùng sự chênh lệch của tổng sản lượng nền kinh tế của thời kỳ sau so với thời kỳ trước. Một số định nghĩa khác về tăng trưởng kính tế: Mercantilism (Chủ nghĩa trọng thương): Sự giàu có của một quốc gia được quyết định bởi sự tích lũy vàng và điều hành thặng dư thương mại Classical theory (Lý thuyết cổ điển): Adam Smith nhấn mạnh vào vai trò của việc tăng lợi nhuận theo quy mô (tính kinh tế của quy mô / chuyên môn hóa) Neo-classical theory (Lý thuyết tân cổ điển): Tăng trưởng dựa trên các yếu tố từ phía cung như: năng suất lao động, quy mô lực lượng lao động, yếu tố đầu vào. Endogenous growth theories (Lý thuyết tăng trưởng nội sinh): Tốc độ tăng trưởng kinh tế chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của nguồn nhân lực và tốc độ đổi mới công nghệ.
13 Keynesian demand-side (Học thuyết kinh tế Keynes): Keynes lập luận rằng tổng cầu có thể đóng một vai trò trong việc ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn và trung hạn. Mặc dù hầu hết các lý thuyết tăng trưởng bỏ qua vai trò của tổng cầu, một số nhà kinh tế cho rằng suy thoái kinh tế có thể gây ra hiệu ứng trễ và tăng trưởng kinh tế dài hạn thấp hơn. Limits to growth (Giới hạn về sự tăng trưởng): Từ góc độ môi trường, một số ý kiến cho rằng tăng trưởng kinh tế dài hạn sẽ bị hạn chế bởi suy thoái tài nguyên và sự nóng lên toàn cầu. Điều này có nghĩa là tăng trưởng kinh tế có thể chấm dứt - gợi nhớ đến các lý thuyết của Malthus.
Mục tiêu của Tăng trưởng Kinh tế Vài thập kỷ trước đây, tăng trưởng kinh tế đã là một mục tiêu tương đối không có gì phải bàn cãi. Các mục tiêu kinh tế của các Chính phủ các nước thường là tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, tăng năng suất lao động, nâng cao mức sống, khả năng phát triển ở nước ngoài, sự ổn định chi phí và giá cả. Vì thế mà ta không có gì phải nghi ngờ về tầm quan trọng của sự tăng trưởng với tư cách là một mục tiêu chính sách của mỗi quốc gia. Sự tăng trưởng tạo điều kiện để nâng cao mức sống và đẩy mạnh an ninh quốc gia.
Nó kích thích kinh doanh táo bạo, khuyến khích sự đổi mới và mang lại một sự khích lệ thường xuyên đối với hiệu quả kỹ thuật và quản lý. Hơn nữa, một nền kinh tế đang tăng trưởng tạo thuận lợi cho tính năng động về mặt kinh tế và xã hội; tính năng động về kinh tế, bởi vì những thay đổi trong mô hình công nghiệp có thể diễn ra thông qua nguồn nhân lực mới của lực lượng lao động và dòng đầu tư mới; tính năng động về mặt xã hội, bởi vì sự mở rộng quy mô kinh tế sẽ tăng cường cơ hội cho các thành viên dám nghĩ dám làm và sáng tạo trong cộng đồng. Sự tăng trưởng tạo nguồn vốn cho cộng đồng. Vào những năm 1970, mục tiêu của sự tăng trưởng kinh tế đã bị chỉ trích.
Sự chỉ trích có hai cơ sở chủ yếu. Thứ nhất, người ta nói rằng sự tăng trưởng kinh tế liên tục chắc chắn sẽ khiến cho tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng tăng và sự phá huỷ môi sinh không thể sửa chữa được. Thứ hai, người ta cho rằng tăng trưởng kinh tế sẽ dẫn đến sự suy yếu của “các nguồn lực không thể tái tạo”. Tuy 14 nhiên trong quá trình phát triển đến nay do tiến bộ khoa học công nghệ đã chứng tỏ rằng sự quan ngại trên là không cần thiết Các yếu tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế.
● Nguồn nhân lực. Nhiều nhà kinh tế cho rằng chất lượng đầu vào lào đ ộng - kỹ năng, kiến thức và kỷ luật của lực lượng lao động- là yếu tố quan trọng nhất của tăng trưởng kinh tế. Hầu hết các yếu tố khác của sản xuất như vốn, nguyên vật liệu, công nghệ đều có thể mua hoặc vay được trong nền kinh tế thế giới. Một nước có thể nhập các thiết bị thông tin viễn thông, máy tính, máy phát điện, các loại máy móc hiện đại nhất.
Nhưng những hàng hóa vốn này chỉ có thể được sử dụng một cách có hiệu quả nhất nếu như người công nhân có kỹ năng và được đào tạo, có trình độ văn hóa, kỷ luật lao động cao làm cho năng suất lao động tăng. Người quản lý có tri thức và khả năng quản lý những quy trình công nghệ hiện đại một cách có hiệu quả. Công nhân làm việc với năng suất cao hơn nếu họ có nhiều công cụ lao động hơn. Khối lượng trang thiết bị và cơ sở vật chất dùng trong quá trình sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ được gọi là vốn hiện vật, hay ngắn gọn là vốn.
Thí dụ, khi người thợ mộc làm việc, anh ta cần có cưa, đục, bào, máy điện,. Việc có nhiều công cụ hơn cho phép người thợ làm việc nhanh và chính xác hơn. Nghĩa là trong một tuần, một người thợ mộc với một vài dụng cụ thô sơ sẽ làm được ít đồ gỗ hơn so với người thợ mộc được trang bị công cụ tinh vi, chuyên dụng cho nghề mộc. Vốn hiện vật biểu thị yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất mà trước đó đã từng là đầu ra của quá trình sản xuất.
Thí dụ, người thợ mộc sử dụng máy tiện để làm chân bàn. Trước đó, chiếc máy tiện đã là sản phẩm của nhà sản xuất máy tiện. Nhà sản xuất máy tiện lại phải sử dụng các công cụ và trang thiết bị khác để làm ra máy tiện. Như vậy, vốn hiện vật là nhân tố sản xuất được dùng để sản xuất ra tất cả các loại hàng hoá và dịch vụ, trong đó có bản thân vốn hiện vật.
Bản thân vốn hiện vật của một nước tăng trưởng theo thời gian, nhưng tăng nhanh hay chậm phụ thuộc vào quá trình tích lũy vốn. Nhưng như mọi người biết 15 tích lũy vốn cần có sự hy sinh tiêu dùng hiện tại trong nhiều năm. Những nước tăng trưởng nhanh có xu hướng đầu tư mạnh vào hàng hóa vốn mới; ở những nước tăng trưởng nhanh nhất, 10 đến 20 phần trăm thu nhập dành cho việc tạo vốn. Khi bàn đến vốn, mọi người không chỉ đề cập đến nhà xưởng, máy móc.
Nhiều đầu tư do chính phủ tiến hành và đặt nền móng cho sự phát triển của khu vực tư nhân. Những đầu tư này được gọi là vốn cố định xã hội và bao gồm dự án lớn như mở đường cho các hoạt động thương mại. Đường sá và các dự án về nước và thủy lợi, các biện pháp y tế cộng đồng là những thí dụ quan trọng. Tất cả những dự án này bao gồm những khoản đầu tư lớn thường không thể chia nhỏ được hay đầu tư trọn gói, và nhiều khi có lợi tức tăng dần theo quy mô.
Thường thì các khoản đầu tư này ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế một cách ngoại sinh, hay ảnh hưởng lan tỏa mà các hãng tư nhân không thể đảm đương được, do đó chính phủ phải tham gia vào để đảm bảo rằng những đầu tư cơ sở hạ tằng hay vốn xã hội được thực hiện. ● Tài nguyên thiên nhiên: Một trong các yếu tố sản xuất quan trọng nữa là tài nguyên thiên nhiên. Tài nguyên thiên nhiên là yếu tố đầu vào của quà trình sản xuất do thiên nhiên mang lại, như đất đai, sông ngòi và khoáng sản. Có hai loại tài nguyên thiên nhiên: loại tái tạo được và loại không tái tạo được.
Rừng cây là thí dụ về loại tài nguyên thiên nhiên có thể tái tạo được. Dầu mỏ là tài nguyên không tái tạo được vì nó là sản phẩm của thiên nhiên sau hàng ngàn năm biến đổi, nên nguồn cung chỉ có hạn. Khi nguồn cung dầu mỏ cạn kiệt nước ta không thể tái tạo thêm. Sự khác biệt về nguồn tài nguyên thiên nhiên gây ra một số khác biệt về mức sống trên thế giới.
Sự thành công có ý nghĩa lịch sử của Mỹ bắt nguồn từ cung đất đai mênh mông, thích hợp cho ngành nông nghiệp. Ngày nay một số nước ở vùng Trung đông như Cô-oét và ả rập Xê-út rất giàu chỉ vì họ sống trên những giếng dầu lớn nhất thế giới. Mặc dù nguồn tài nguyên thiên nhiên có ý nghĩa quan trọng, nhưng đó không nhất thiết phải là nguyên nhân làm cho nền kinh tế có năng suất cao trong việc sản xuất hàng hoá và dịch vụ. Thí dụ, Nhật là một trong những quốc gia giàu nhất thế 16 giới mặc dù không có mấy tài nguyên thiên nhiên.
Thương mại quốc tế là nguyên nhân thành công của nước Nhật. Nhật nhập khẩu rất nhiều tài nguyên thiên nhiên cần thiết, chẳng hạn dầu mỏ, rỗi xuất khẩu hàng công nghiệp sang các nước có nhiều tài nguyên. Nhật giàu có nhờ tập trung vào những khu vực phụ thuộc nhiều vào lao động và vốn hơn là vào những nguồn lực trong nước. Chẳng hạn một nước nhỏ như Singapo với diện tích nhỏ hơn nước Nga rất nhiều lần nhưng có kim ngạch buôn bán quốc tế lớn hơn nước Nga.
● Tiến bộ công nghệ. Cùng với ba nhân tố sản xuất đã thảo luận ở trên, tăng trưởng kinh tế còn phụ thuộc vào nhân tố hết sức quan trọng là tiến bộ công nghệ. Trong lịch sử, tăng trưởng của các nước trên thế giới có hình mẫu khác nhau, không phải là quá trình sao chép giản đơn, tăng thêm nhà máy hoặc công nhân. Trái lại là một quá trình sáng chế và thay đổi công nghệ không ngừng đã đem lại một bước tiến xa về khả năng sản xuất của các nước châu Âu, Mỹ và Nhật Bản và các nước công nghiệp mới như Hàn Quốc, Singapo.