Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam có độ mở ngày càng sâu rộng kể từ khi chính thức trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào năm 2007. Sự hội nhập quốc tế cùng với sự vận động không ngừng của hệ thống tài chính đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong việc lựa chọn và điều hành cơ chế truyền tải chính sách tiền tệ phù hợp. Khác với các nền kinh tế phát triển sở hữu thị trường tài chính hiện đại – nơi kênh lãi suất đóng vai trò dẫn dắt, tại các quốc gia đang phát triển có thị trường tài chính phụ thuộc phần lớn vào hệ thống ngân hàng thương mại, kênh tín dụng và kênh tỷ giá thường là các kênh truyền tải chủ đạo.

Mặc dù vai trò của chính sách tiền tệ trong việc ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát đã được khẳng định trong lý thuyết kinh tế, các nghiên cứu thực nghiệm sử dụng phương pháp định lượng để bóc tách cơ chế truyền tải qua kênh tín dụng tại Việt Nam vẫn còn hạn chế. Nhằm cung cấp cơ sở thực nghiệm cho công tác hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ, tác giả Dương Vũ Hương Thảo đã thực hiện chuyên đề tốt nghiệp với đề tài "Ứng dụng mô hình cấu trúc tự hồi quy vectơ (SVAR) phân tích cơ chế truyền tải chính sách tiền tệ tại Việt Nam giai đoạn 2008-2022".

Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu của chuyên đề được xác định rõ:

  1. Xây dựng mô hình cấu trúc tự hồi quy vectơ (SVAR) nhằm mô hình hóa mối quan hệ động giữa các chỉ tiêu tiền tệ và các biến số kinh tế vĩ mô tại Việt Nam giai đoạn 2008–2022.
  2. Đánh giá thực trạng điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước qua kênh tín dụng (bao gồm kênh bảng cân đối kế toán của người đi vay và kênh khả năng cấp tín dụng của ngân hàng thương mại).
  3. Phân tích định hướng và mức độ truyền tải của các cú sốc chính sách tiền tệ (cú sốc lãi suất, cú sốc tín dụng) đến hai biến mục tiêu vĩ mô cốt lõi là Tổng sản phẩm trong nước (GDP) và Chỉ số giá tiêu dùng (CPIVN).
  4. Trả lời hai câu hỏi nghiên cứu thực nghiệm trọng tâm:
    • (i) Kênh tín dụng có thực sự tồn tại tại Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu hay không?
    • (ii) Mức độ khuếch đại của kênh tín dụng đối với nền kinh tế là mạnh hay yếu?

Đối tượng nghiên cứu là hệ thống 7 biến số kinh tế vĩ mô và chỉ tiêu tiền tệ, phân chia thành 2 khu vực:

  • Khu vực quốc tế (biến ngoại sinh đại diện cho cú sốc bên ngoài): Chỉ số giá tiêu dùng của Hoa Kỳ (CPIUS) và Lãi suất vốn của Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ FED (FFR).
  • Khu vực trong nước: Tổng sản phẩm trong nước (GDP), Chỉ số giá tiêu dùng (CPIVN), Lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng (LEN), Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế (DOC), và Tỷ giá giao dịch cuối kỳ (EXE).

Phạm vi nghiên cứu về không gian là nền kinh tế Việt Nam trong mối tương quan với các cú sốc kinh tế quốc tế từ Hoa Kỳ; phạm vi thời gian thu thập dữ liệu thứ cấp theo quý kéo dài từ Quý 1/2008 đến Quý 3/2022 (tương ứng với 59 quan sát).


Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và khái niệm nền tảng

Nghiên cứu dựa trên khung lý thuyết truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng được phát triển bởi Bernanke và Gertler (1995), kết hợp các quy định pháp lý tại Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010. Cơ chế truyền tải qua kênh tín dụng vận hành thông qua hai nhánh chính:

  • Kênh bảng cân đối kế toán của người đi vay: Tác động của chính sách tiền tệ làm thay đổi chi phí lãi vay, dòng tiền, lợi nhuận và giá trị tài sản ròng/tài sản thế chấp của doanh nghiệp. Tình trạng thông tin bất cân xứng làm phát sinh chi phí vốn bên ngoài (external finance premium), từ đó dẫn đến rủi ro đạo đức và lựa chọn đối nghịch, buộc ngân hàng phải thắt chặt điều kiện tín dụng và làm suy giảm đầu tư.
  • Kênh khả năng cấp tín dụng của ngân hàng (Bank Lending Channel): Khi Ngân hàng Nhà nước thắt chặt tiền tệ hoặc có cú sốc tiêu cực, lượng tiền gửi huy động và dự trữ của ngân hàng sụt giảm, nguy cơ nợ xấu gia tăng cùng yêu cầu duy trì tỷ lệ an toàn vốn (hệ số CAR) khiến ngân hàng buộc phải thu hẹp quy mô cung ứng tín dụng ra nền kinh tế.
Công cụ chính sách tiền tệ (Luật NHNN 2010) Cơ chế tác động
Tái cấp vốn Cấp tín dụng từ Ngân hàng Nhà nước cho các NHTM để hỗ trợ thanh khoản
Dự trữ bắt buộc Thay đổi tỷ lệ tiền gửi bắt buộc nhằm điều chỉnh số nhân tiền tệ và thanh khoản
Nghiệp vụ thị trường mở (OMO) Mua/bán giấy tờ có giá ngắn hạn để điều hòa cung cầu vốn trên thị trường tiền tệ
Lãi suất điều hành Công bố lãi suất tái cấp vốn, lãi suất cơ bản để định hướng mặt bằng lãi suất
Tỷ giá hối đoái Điều tiết quan hệ cung cầu ngoại hối, ổn định sức mua đồng nội tệ

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng chuỗi thời gian kinh tế lượng với mô hình cấu trúc tự hồi quy vectơ (SVAR) dựa trên nền tảng phương pháp luận của Sims (1980, 1986). Quy trình ước lượng và kiểm định gồm:

  1. Kiểm định tính dừng: Sử dụng kiểm định nghiệm đơn vị Augmented Dickey-Fuller (ADF) với tiêu chuẩn thông tin Akaike (AIC) để xác định bậc tích hợp của từng chuỗi dữ liệu.
  2. Xác định độ trễ tối ưu: Dựa trên các tiêu chuẩn lựa chọn độ trễ AIC, Schwarz Information Criterion (SC), và Hannan-Quinn Criterion (HQ).
  3. Định dạng cấu trúc ma trận đồng thời: Áp dụng các ràng buộc ngắn hạn (short-run restrictions) dựa trên lý thuyết kinh tế vĩ mô để nhận dạng các cú sốc cấu trúc trực giao thông qua phương pháp ước lượng hợp lý cực đại (Maximum Likelihood - ML).
  4. Phân tích hàm phản ứng đẩy (Impulse Response Functions - IRF): Đánh giá động thái phản ứng theo thời gian của GDP và CPIVN trước các cú sốc từ lãi suất (LEN) và tín dụng (DOC) trong khoảng thời gian 10 quý.
  5. Mô hình đối chứng: Thiết lập hai mô hình SVAR gồm mô hình 1 (biến DOC là nội sinh) và mô hình 2 (biến DOC chuyển thành ngoại sinh) nhằm kiểm định vai trò khuếch đại của kênh tín dụng.

Nguồn dữ liệu và tiền xử lý

Dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu là chuỗi số liệu thứ cấp theo quý từ Quý 1/2008 đến Quý 3/2022 (59 quan sát), thu thập từ các nguồn chính thống:

  • Hệ thống cơ sở dữ liệu thống kê tài chính của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IFS-IMF)
  • CEIC Data
  • FRED Economics Data (Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ)
  • Vietstock Finance và Cổng thông tin Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Trong giai đoạn tiền xử lý, tác giả thực hiện đồng nhất dữ liệu:

  • Biến tín dụng (DOC) gặp hiện tượng khuyết giá trị (missing value) được thu thập từ CEIC Data theo đơn vị USD, sau đó nhân với tỷ giá (EXE) để quy đổi về đơn vị nghìn tỷ VNĐ đồng nhất.
  • Biến tỷ giá (EXE) có tần suất thu thập theo tháng được chuyển đổi sang dữ liệu quý bằng phương pháp trung bình cộng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về chính sách tiền tệ, các công cụ, mục tiêu (kiểm soát lạm phát, tạo việc làm, tăng trưởng kinh tế) và các kênh truyền tải chính sách tiền tệ theo Luật Ngân hàng Nhà nước 2010 và các lý thuyết tài chính tiền tệ quốc tế. Tác giả phân tích chuyên sâu hai nhánh của kênh tín dụng gồm kênh bảng cân đối kế toán của người đi vay và kênh khả năng cấp tín dụng của hệ thống ngân hàng thương mại, đồng thời chỉ ra các nhân tố chi phối như mức độ phát triển thị trường tài chính, tính thanh khoản, tỷ lệ an toàn vốn (CAR), tỷ lệ nợ xấu, và mức độ độc lập của Ngân hàng Trung ương.

Bên cạnh đó, chương này tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm tiêu biểu trên thế giới (Kashyap & Stein, 1995, 2000; Peek & Rosengren, 1995; Kishan & Opiela, 2000; Gertler & Gilchrist, 1993; Bernanke & Gertler, 1995) và tại Việt Nam (Nguyễn Phi Lân, 2015; Chu Khánh Lân & Trần Thị Hương Giang, 2016; Đào Trúc Linh, 2019). Tác giả làm rõ vai trò của các biến số quốc tế (CPIUS, FFR) như những cú sốc ngoại sinh có tác động lan truyền mạnh mẽ đến nền kinh tế quy mô nhỏ và độ mở cao như Việt Nam.

Chương 2: Thực trạng chính sách tiền tệ và một số yếu tố kinh tế vĩ mô tại Việt Nam giai đoạn 2008 – 2022

Chương 2 phân tích diễn biến thực tế của nền kinh tế Việt Nam và các giai đoạn điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước:

  • Giai đoạn trước năm 2011: Tăng trưởng tín dụng nóng (có năm vượt 30%, cá biệt tăng 53,8%), tỷ lệ tín dụng/GDP tăng nhanh dẫn đến lạm phát hai con số, rủi ro thanh khoản và nợ xấu đe dọa an toàn hệ thống ngân hàng.
  • Giai đoạn 2012 – 2021: Ngân hàng Nhà nước chuyển sang áp dụng công cụ giao chỉ tiêu (hạn mức/quota) tăng trưởng tín dụng định hướng toàn ngành, duy trì tốc độ tăng tín dụng ở mức ổn định 12–14%/năm, góp phần kiểm soát lạm phát dưới 4%.
  • Giai đoạn 2020 – 2022: Ứng phó với đại dịch Covid-19 và biến động kinh tế toàn cầu, Ngân hàng Nhà nước 3 lần giảm lãi suất điều hành (tổng mức giảm 1,5–2%/năm trong năm 2020). Tính đến ngày 16/9/2022, tín dụng toàn nền kinh tế tăng 10,47% so với cuối năm 2021 và tăng 17,19% so với cùng kỳ năm trước.
Biến số Ký hiệu Đơn vị Giá trị nhỏ nhất Giá trị lớn nhất Giá trị trung bình Trung vị
CPI Hoa Kỳ CPIUS % -1,62% 8,64% 2,26% 1,81%
Lãi suất FED FFR % 0,06% 3,18% 0,64% 0,00%
GDP Việt Nam GDP Tỷ VNĐ 254.086 20.650.431 1.413.934,91 1.004.792
CPI Việt Nam CPIVN % 0,29% 27,75% 6,65% 4,14%
Lãi suất cho vay LEN % 6,95% 20,10% 9,89% 8,09%
Dư nợ tín dụng DOC Tỷ VNĐ 1.201.247.657 11.625.409.186 5.511.702.069 4.809.217.500
Tỷ giá hối đoái EXE VNĐ 15.989,00 23.400,00 21.287,58 21.712,33

Chương 3: Ứng dụng mô hình SVAR phân tích mối quan hệ giữa các chỉ tiêu tiền tệ và các biến số kinh tế vĩ mô tại Việt Nam trong giai đoạn 2008-2022

Chương 3 triển khai chi tiết phương pháp ước lượng mô hình SVAR. Tác giả thực hiện kiểm định nghiệm đơn vị ADF cho 7 biến số: kết quả cho thấy biến tỷ giá (EXE) là chuỗi dừng ở bậc gốc I(0) ở mức ý nghĩa 5%, trong khi 6 biến còn lại (CPIUS, FFR, GDP, CPIVN, LEN, DOC) đều không dừng ở chuỗi gốc nhưng đạt tính dừng ở sai phân bậc nhất I(1).

Kiểm định ADF -> Lấy sai phân I(1) -> Chọn độ trễ tối ưu (SVAR1: p=6; SVAR2: p=7) -> Ước lượng ML ma trận cấu trúc A, B -> Phân tích hàm phản ứng IRF (10 quý)

Cấu trúc ma trận hệ số ràng buộc đồng thời $A_1$ (mô hình SVAR 1 gồm 7 biến) và $A_2$ (mô hình SVAR 2 gồm 6 biến nội sinh) được xác lập dựa trên các giả định kinh tế:

  • Khối nước ngoài (CPIUS, FFR) chỉ tác động một chiều đến các biến nội sinh trong nước, không chịu phản hồi ngược từ kinh tế Việt Nam. Lãi suất FFR phản ứng tức thời với CPIUS.
  • GDP phản ứng đồng thời với lạm phát (CPIVN) và tín dụng (DOC).
  • Tín dụng (DOC) phản ứng đồng thời với GDP, CPIVN và lãi suất cho vay (LEN).
  • Lãi suất cho vay (LEN) chịu ảnh hưởng tức thời từ cú sốc quốc tế (CPIUS, FFR) và tỷ giá (EXE).

Kết quả và đóng góp

Kết quả định lượng từ hàm phản ứng đẩy (IRF)

Kết quả phân tích hàm phản ứng đẩy trong khoảng thời gian theo dõi 10 quý chỉ ra các phát hiện:

Cú sốc tác động Biến mục tiêu Chiều hướng và mức độ tác động theo thời gian
Cú sốc tăng lãi suất (dLEN) Tăng trưởng GDP (dGDP) - Giảm tốc độ tăng trưởng GDP ngay từ Quý 1.
- Mức độ tác động tiêu cực đạt đỉnh ở Quý 3.
- Tác động suy giảm và mờ nhạt dần từ Quý 9 trở đi.
Cú sốc tăng lãi suất (dLEN) Lạm phát (dCPIVN) - Tác động làm giảm đà tăng của CPIVN diễn ra chậm, mức độ ảnh hưởng rất thấp trong 3 quý đầu.
- Tác động kiềm chế lạm phát đạt mức mạnh nhất vào Quý 6.
- Tác động duy trì kéo dài và mờ nhạt dần sau Quý 8.
Cú sốc tăng tín dụng (dDOC) Tăng trưởng GDP (dGDP) - Tác động tích cực làm tăng GDP bắt đầu ngay từ Quý 1.
- Biên độ tác động có sự biến động qua các quý do hạn chế của chuỗi cung ứng hàng hóa, nhưng tổng tích lũy tác động là dương.

Kết quả so sánh giữa mô hình SVAR 1 và SVAR 2 khẳng định kênh tín dụng có tồn tại thực sự tại Việt Nam và đóng vai trò như một "cơ chế khuếch đại" làm tăng biên độ phản ứng của nền kinh tế đối với các cú sốc chính sách tiền tệ.

Hàm ý chính sách và kiến nghị

Từ kết quả thực nghiệm, tác giả rút ra các hàm ý quan trọng:

  1. Kiên định và đồng bộ trong điều hành: Do tác động của lãi suất đến lạm phát có độ trễ lớn (đạt đỉnh tại Quý 6) trong khi tác động tiêu cực đến GDP xuất hiện rất nhanh (đạt đỉnh tại Quý 3), việc thắt chặt tiền tệ để kiểm soát lạm phát cần sự kiên trì và phối hợp hài hòa với chính sách tài khóa nhằm tránh làm suy thoái sản xuất quá mức.
  2. Kiểm soát chất lượng tín dụng: Tiếp tục hoàn thiện cơ chế điều hành hạn mức tín dụng định hướng, tập trung dòng vốn vào khu vực sản xuất kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên, hạn chế tín dụng vào lĩnh vực rủi ro cao.
  3. Nâng cao năng lực quản trị hệ thống ngân hàng: Tăng cường tính thanh khoản, kiểm soát tỷ lệ nợ xấu và đảm bảo hệ số an toàn vốn (CAR) nhằm gia tăng hiệu quả truyền dẫn chính sách qua kênh tín dụng.

Đóng góp của đề tài

  • Cập nhật chuỗi dữ liệu kinh tế vĩ mô và tiền tệ của Việt Nam sau giai đoạn gia nhập WTO đến Quý 3/2022 (bao gồm cả biến động trong đại dịch Covid-19).
  • Ứng dụng thành công kỹ thuật kinh tế lượng SVAR để tách biệt cú sốc lãi suất và cú sốc tín dụng trong điều kiện kinh tế mở có cú sốc ngoại sinh từ Hoa Kỳ (CPIUS, FFR).
  • Cung cấp bằng chứng thực nghiệm rõ ràng về tính trễ và tính bất đối xứng giữa mục tiêu tăng trưởng sản lượng và kiểm soát lạm phát của Ngân hàng Nhà nước.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế về cỡ mẫu dữ liệu: Mẫu nghiên cứu gồm 59 quan sát theo quý. Mặc dù đáp ứng yêu cầu tối thiểu cho mô hình chuỗi thời gian, độ dài chuỗi dữ liệu có thể ảnh hưởng đến độ chính xác khi ước lượng các mô hình có cấu trúc trễ bậc cao (trễ 6 và trễ 7).
  • Giả định tính trực giao: Kích thước mô hình SVAR nhỏ (7 biến) dựa trên giả định các cú sốc cấu trúc cơ bản là trực giao, điều này có thể tạo ra những ràng buộc nhất định trong việc nắm bắt toàn diện sự phức tạp của thị trường tài chính.
  • Dạng sai phân bậc nhất: Nghiên cứu lựa chọn mô hình SVAR ở dạng sai phân bậc nhất để tập trung vào mối quan hệ động ngắn hạn thay vì mô hình hiệu chỉnh sai số vectơ (VECM), do đó chưa phân tích được mối quan hệ cân bằng dài hạn (đồng tích hợp) giữa các biến số.

Giá trị tham khảo

Chuyên đề tốt nghiệp là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Toán Kinh tế, Kinh tế học, Tài chính - Ngân hàng: Cung cấp tài liệu mẫu mực về quy trình nghiên cứu định lượng chuỗi thời gian, từ khâu tiền xử lý dữ liệu khuyết thiếu, kiểm định nghiệm đơn vị ADF, thiết lập ma trận nhận dạng cấu trúc SVAR, đến phân tích đồ thị phản ứng đẩy IRF trên phần mềm R-Studio/EViews.
  • Các nhà nghiên cứu kinh tế vĩ mô: Tham khảo khung phân tích kết hợp giữa khối ngoại sinh quốc tế (Hoa Kỳ) và khối nội sinh trong nước để đánh giá cơ chế lan truyền của các cú sốc bên ngoài vào nền kinh tế Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Nghiên cứu sử dụng bao nhiêu biến số và phân chia cấu trúc mô hình như thế nào?

Mô hình SVAR sử dụng 7 biến số chia làm 2 khu vực:

  • Khu vực quốc tế (2 biến ngoại sinh): Chỉ số giá tiêu dùng Hoa Kỳ (CPIUS) và Lãi suất quỹ liên bang FED (FFR).
  • Khu vực trong nước (5 biến nội sinh): Tổng sản phẩm trong nước (GDP), Chỉ số giá tiêu dùng (CPIVN), Lãi suất cho vay (LEN), Dư nợ tín dụng đối với nền kinh tế (DOC), và Tỷ giá giao dịch cuối kỳ (EXE).

2. Kết quả kiểm định tính dừng ADF cho các chuỗi dữ liệu ra sao?

Kiểm định ADF cho thấy biến tỷ giá giao dịch (EXE) là chuỗi dừng ở bậc gốc I(0) tại mức ý nghĩa 5%. Toàn bộ 6 biến còn lại gồm CPIUS, FFR, GDP, CPIVN, LEN, và DOC đều là các chuỗi không dừng ở bậc gốc nhưng đạt tính dừng sau khi lấy sai phân bậc nhất I(1).

3. Có sự khác biệt nào về độ trễ tác động của cú sốc lãi suất đến GDP và CPI tại Việt Nam?

Cú sốc tăng lãi suất cho vay (LEN) làm giảm GDP ngay từ Quý 1 và đạt mức tác động tiêu cực mạnh nhất tại Quý 3, sau đó giảm dần và mờ nhạt từ Quý 9. Ngược lại, tác động kiềm chế lạm phát (CPIVN) diễn ra chậm hơn (rất thấp trong 3 quý đầu), đạt đỉnh tác động giảm giá tại Quý 6 và duy trì đến Quý 8 mới bắt đầu mờ nhạt.

4. Tác giả xử lý dữ liệu khuyết thiếu và dữ liệu không đồng nhất về tần suất như thế nào?

Dữ liệu biến tín dụng (DOC) bị thiếu giá trị được thu thập từ CEIC Data theo đơn vị USD, sau đó nhân với tỷ giá (EXE) tương ứng để quy đổi thành giá trị VNĐ. Biến tỷ giá (EXE) thu thập theo tần suất tháng được chuyển sang tần suất quý bằng phương pháp lấy trung bình cộng 3 tháng trong quý.

5. Độ trễ tối ưu được xác định cho các mô hình SVAR trong nghiên cứu là bao nhiêu?

Dựa trên các tiêu chuẩn thông tin AIC, SC và HQ, độ trễ tối ưu được lựa chọn là trễ 6 ($p=6$) đối với mô hình SVAR 1 (mô hình có biến tín dụng DOC là nội sinh) và trễ 7 ($p=7$) đối với mô hình SVAR 2 (mô hình có biến tín dụng DOC là ngoại sinh).


Kết luận

Chuyên đề tốt nghiệp của tác giả Dương Vũ Hương Thảo đã ứng dụng thành công mô hình cấu trúc tự hồi quy vectơ (SVAR) để phân tích cơ chế truyền tải chính sách tiền tệ qua kênh tín dụng tại Việt Nam giai đoạn 2008–2022. Kết quả nghiên cứu khẳng định sự tồn tại và vai trò khuếch đại của kênh tín dụng, đồng thời làm rõ sự đánh đổi cùng độ trễ tác động giữa hai mục tiêu tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát. Công trình đóng góp cơ sở khoa học thực nghiệm có giá trị cho việc hoạch định và điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt, hiệu quả của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.