CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỢI NHUẬN VÀ PHÂN TÍCH LỢI NHUẬN 1.1 Những vấn đề cơ bản về lợi nhuận và phân tích lợi nhuận 1.1 Một số khái niệm về lợi nhuận Từ trước tới nay, có rất nhiều những quan điểm khác nhau về lợi nhuận. Ta có thể hiểu rõ về lợi nhuận qua các quan điểm sau: Lợi nhuận là chỉ tiêu tài chính tổng hợp phản ánh hiệu quả kinh tế của các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, là khoản chênh lệch giữa các khoản thu nhập thu được với các khoản chi phí phát sinh để có được thu nhập đó trong một khoảng thời gian nhất định. (Theo giáo trình Tài chính doanh nghiệp thương mại, PGS.TS Đinh Văn Sơn, Đại học Thương Mại, xuất bản năm 2006). Lợi nhuận kế toán là lợi nhuận hoặc lỗ của một kỳ, trước khi trừ thuế thu nhập doanh nghiệp được xác định theo quy định của chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán.
(Theo Chuẩn kế toán số 17- Thuế thu nhập doanh nghiệp) Nói một cách đơn giản hơn ta có thể hiểu lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là khoản tiền chênh lệch giữa doanh thu và chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra để đạt được doanh thu đó. Lợi nhuận trước thuế là khoản lợi nhuận sinh ra từ các loại hoạt động của doanh nghiệp bao gồm: hoạt động sản xuất, kinh doanh, tài chính, đầu tư và các hoạt động khác sau khi đã trừ đi phần chi phí hợp lý, hợp lệ. Nhưng chưa trừ đi khoản chi phí thuế thu nhập hiện hành của doanh nghiệp. (Theo giáo trình Kế toán tài chính TS.
Nguyễn Tuấn Duy và TS. Đặng Thị Hòa, Nhà xuất bản thống kê, xuất bản năm 2010). Lợi nhuận sau thuế hay còn gọi là lợi nhuận ròng của doanh nghiệp, lợi nhuận chưa phân phối. Lợi nhuận sau thuế chính là khoản lợi nhuận trước thuế trừ đi khoản chi phí thuế thu nhập hiện hành mà doanh nghiệp phải nộp.2 Một số vấn đề lý thuyết liên quan 1.1 Nguồn hình thành lợi nhuận Nội dung hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp rất phong phú và đa dạng, do đó lợi nhuận của doanh nghiệp cũng được hình thành từ các nguồn khác nhau như: SV: Nguyễn Thu Hằng 7 GVHD: TS.
Tạ Quang Bình Khóa luận tốt nghiệp Lớp: K45D7 Thứ nhất, lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh. Chức năng chủ yếu của kinh doanh thương mại là mua bán trao đổi hàng hóa, cung cấp dịch vụ nhằm đưa hàng hóa từ sản xuất đến tiêu dùng. Vì vậy hoạt động kinh doanh cơ bản của doanh nghiệp thương mại là tổ chức lưu chuyển hàng hóa. Lợi nhuận thu được từ hoạt động này được hình thành từ việc thực hiện chức năng nhiệm vụ chủ yếu của doanh nghiệp.
Bộ phận lợi nhuận này chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng lợi nhuận của doanh nghiệp thương mại. Ngoài lĩnh vực sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp còn có thể tham gia vào hoạt động đầu tư tài chính. Hoạt động tài chính là hoạt động đầu tư vốn ra bên ngoài doanh nghiệp như: góp vốn liên doanh liên kết, mua bán trái phiếu, cổ phiếu, lãi từ tiền gửi,…Các khoản lợi nhuận thu từ hoạt động này góp phần làm tăng tổng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Thứ hai, lợi nhuận khác là các khoản lãi thu từ các hoạt động khác ngoài những hoạt động nói trên, những khoản lãi này phát sinh không thường xuyên, doanh nghiệp thường không dự kiến trước được ví dụ như: các khoản thu từ bán vật tư tài sản thừa sau khi đã bù trừ hao hụt mất mát, thu từ thanh lý nhượng bán tài sản cố định, tiền được phạt, được bồi thường,… 1.2 Vai trò của lợi nhuận a) Đối với Nhà nước Lợi nhuận là điều kiện tài chính để doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ trách nhiệm với Nhà nước.
Thông qua việc nộp ngân sách đầy đủ sẽ giúp cho Nhà nước thực hiện công tác phúc lợi đối với xã hội, đất nước tạo điều kiện cho đất nước phát triển. Khi doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả đạt được lợi nhuận cao thì Nhà nước cũng có lợi như: tăng nguồn thu cho Ngân sách, tạo điều kiện cải thiện và nâng cao mức sống cho người dân, đảm bảo tăng trưởng kinh tế… b) Đối với doanh nghiệp Bất kỳ doanh nghiệp nào hoạt động trong cơ chế thị trường điều đầu tiên mà họ quan tâm đó là lợi nhuận. Đây là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh hiệu quả của quá trình kinh doanh, đồng thời nó còn là yếu tố sống còn của doanh nghiệp. Doanh nghiệp chỉ tồn tại và hoạt động khi nó tạo ra lợi nhuận, nếu doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả, thu không đủ bù đắp chi, thì doanh nghiệp đó sẽ dần đi đến chỗ phá sản.
Đặc biệt trong điều kiện kinh tế khó khăn như hiện nay, cạnh tranh diễn ra ngày SV: Nguyễn Thu Hằng 8 GVHD: TS. Tạ Quang Bình Khóa luận tốt nghiệp Lớp: K45D7 càng gay gắt và khốc liệt vì vậy lợi nhuận lại đóng vai trò ngày càng quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp. Tóm lại, đối với doanh nghiệp lợi nhuận có ba vai trò cụ thể như: Một là, lợi nhuận tạo ra khả năng tiếp tục kinh doanh có chất lượng và hiệu quả cao hơn. Hai là, lợi nhuận đảm bảo cho tái sản xuất mở rộng.
Ba là, lợi nhuận càng cao thể hiện tài chính của doanh nghiệp ngày càng lớn mạnh, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có được chỗ đứng vững chắc trên thị trường. c) Đối với người lao động Sản xuất kinh doanh có hiệu quả và đạt lợi nhuận cao sẽ có điều kiện nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của người lao động. Ngoài phần tiền công mà mỗi lao động nhận được theo nguyên tắc phân phối lao động, lợi nhuận của doanh nghiệp còn góp phần nâng cao thu nhập của người lao động thông qua phần phân phối vào quỹ khen thưởng và quỹ phúc lợi. Chính yếu tố kinh tế đó sẽ tạo nên sự gắn bó của cán bộ công nhân với doanh nghiệp.3 Mục đích của phân tích lợi nhuận Trong những năm gần đây khi nền kinh tế đang rơi vào tình trạng khó khăn, cạnh tranh gay gắt, lạm phát tăng cao khiến hàng nghìn doanh nghiệp nước ta phải phá sản thì một câu hỏi luôn làm đau đầu các nhà quản trị là làm sao điều hành, quản lý các hoạt động sản xuất kinh doanh một cách có hiệu quả để đứng vững trên thị trường và ngày càng phát triển.
Muốn vậy, các doanh nghiệp phải tạo được doanh thu và tăng lợi nhuận. Để làm được điều này thì nhiệm vụ phân tích tình hình kinh doanh của doanh nghiệp càng trở nên quan trọng, trong đó có phân tích lợi nhuận. Phân tích tình hình lợi nhuận nhằm nhận thức đánh giá đúng đắn, toàn diện và khách quan tình hình thực hiện các chỉ tiêu lợi nhuận, chất lượng kinh doanh của từng bộ phận và toàn doanh nghiệp. Đồng thời, qua phân tích có thể thấy được những mâu thuẫn tồn tại và những nguyên nhân khách quan cũng như chủ quan để từ đó tìm ra được những chính sách, những biện pháp thích hợp nhằm tăng lợi nhuận cho Công ty.
Phân tích lợi nhuận là công việc vô cùng cần thiết đối với doanh nghiệp và phải được tiến hành thường xuyên. Ngoài ra, công việc còn cần thiết đối với những đối tượng bên ngoài doanh nghiệp có quan hệ kinh tế pháp lý với doanh nghiệp như: SV: Nguyễn Thu Hằng 9 GVHD: TS. Tạ Quang Bình Khóa luận tốt nghiệp Lớp: K45D7 nhà đầu tư, các ngân hàng, tổ chức tín dụng,…Một khi đã đánh giá được đúng thực trạng tài chính của mình thì chủ doanh nghiệp sẽ được ra được các chính sách, chiến lược đúng đắn và phù hợp với doanh nghiệp.4 Phương pháp xác định lợi nhuận Để xác định lợi nhuận đạt được trong kỳ doanh nghiệp có thể sử dụng một trong các phương pháp tính toán như phương pháp trực tiếp hay phương pháp gián tiếp. Công ty CP ĐT TM vật tư thiết bị công nghiệp Long Khánh đã lựa chọn phương pháp trực tiếp để tính lợi nhuận.
Theo phương pháp này lợi nhuận của doanh nghiệp được xác định bằng tổng hợp lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh và lợi nhuận các hoạt động khác. Cách thức xác định như sau: a) Đối với lợi nhuận hoạt động kinh doanh LN từ hoạt LN gộp DT hoạt Chi phí Chi phí kinh động sản xuất = về BH& + động tài - tài - doanh hợp lý, kinh doanh CCDV chính chính hợp lệ Trong đó: LN gộp về bán DT thuần về bán Trị giá hàng và cung = hàng và cung cấp - vốn hàng cấp dịch vụ dịch vụ bán DT thuần về bán DT về bán Các khoản Thuế phải hàng và cung = hàng và cung - giảm trừ - nộp ở khâu cấp dịch vụ cấp dịch vụ doanh thu tiêu thụ Trong đó: Doanh thu về bán hàng và cung cấp dịch vụ: Là toàn bộ doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp trong kỳ, bao gồm: Thứ nhất, doanh thu bán buôn: Là doanh thu của khối lượng sản phẩm, hàng hóa,…bán cho các cơ, quan đơn vị khác,…nhằm mục đích để tiếp tục chuyển bán hoặc gia công, sản xuất. SV: Nguyễn Thu Hằng 10 GVHD: TS. Tạ Quang Bình Khóa luận tốt nghiệp Lớp: K45D7 Thứ hai, doanh thu bán lẻ: Là doanh thu của khối lượng sản phẩm, hàng hóa,… bán cho các cơ, quan đơn vị khác,…nhằm mục đích để tiêu dùng.
Thứ ba, doanh thu gửi bán đại lý, ủy thác: Là doanh thu của khối lượng hàng gửi bán đại lý theo hợp đồng, ủy thác xuất nhập khẩu. Doanh thu hoạt động gia công là toàn bộ tiền thuê gia công được hưởng chưa trừ đi một khoản phí tổn nào. (Theo giáo trình Kế toán tài chính TS. Nguyễn Tuấn Duy và TS.
Đặng Thị Hòa, Nhà xuất bản thống kê, xuất bản năm 2010). Các khoản giảm trừ doanh thu: bao gồm các khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán cho khách hàng, doanh thu hàng bán bị trả lại. (Theo giáo trình Kế toán tài chính TS. Nguyễn Tuấn Duy và TS.
Đặng Thị Hòa, Nhà xuất bản thống kê, xuất bản năm 2010).