phần mở đầu, kết luận, các bảng biểu, phụ lục, mục lục, danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn gồm 4 chương: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận chung về lợi nhuận. Chƣơng 2: Phương pháp nghiên cứu và thiết kế nghiên cứu. Chƣơng 3: Phân tích thực trạng lợi nhuận tại Công ty cổ phần Chứng khoán Sài Gòn – Hà Nội. Chƣơng 4: Giải pháp tăng lợi nhuận tại Công ty cổ phần Chứng khoán Sài Gòn – Hà Nội.
3 CHƢƠNG I: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ LỢI NHUẬN CỦA CÔNG TY CHỨNG KHOÁN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Thực tiễn cho thấy, các doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển được hay không phụ thuộc rất lớn vào việc doanh nghiệp đó có tạo ra được doanh thu và lợi nhuận hay không. Lợi nhuận là mối quan tâm hàng đầu của các doanh nghiệp, bởi nó quyết định sự tồn vong và khẳng định năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Có lợi nhuận, doanh nghiệp sẽ có nguồn vốn quan trọng để trang trải các chi phí, thực hiện tái sản xuất giản đơn và mở rộng, thực hiện nghĩa vụ với nhà nước, đồng thời một phần lợi nhuận sẽ được trích lập các quỹ để bổ sung nguồn vốn kinh doanh, trả cổ tức cho cổ đông, quỹ phúc lợi… Bên cạnh việc xác định lợi nhuận một cách chính xác thông qua công tác hạch toán các khoản chi phí phù hợp, đúng nguyên tắc, chuẩn mực thì việc thường xuyên quan tâm phân tích kết quả kinh doanh nói chung, phân tích lợi nhuận nói riêng giúp cho doanh nghiệp tự đánh giá mức độ tăng trưởng và hoàn thành kế hoạch, tìm ra những nhân tố tích cực, khắc phục hay loại bỏ các nhân tố tiêu cực, nhằm huy động tối đa nguồn lực, tăng khả năng cạnh tranh, không ngừng nâng cao lợi nhuận và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Các nghiên cứu ở nước ngoài Cơ sở lý thuyết về lợi nhuận không quá phức tạp, tuy nhiên, có khá nhiều quan điểm khác nhau về lợi nhuận. Theo quan điểm của các nhà kinh tế học cổ điển trước Karl Marx “Cái phần trội lên nằm trong giá bán so với chi phí sản xuất là lợi nhuận”. Theo Adam Smith (1776), lợi nhuận là “khoản khấu trừ thứ hai” vào sản phẩm của lao động. Karl Marx (1898) cho rằng: “Giá trị thặng dư hay cái phần trội lên trong toàn bộ giá trị của hàng hoá trong đó lao động thặng dư chính là lao động không được trả công của công nhân đã được vật hoá thì tác giả gọi là lợi nhuận”.
Các nhà kinh tế học hiện 4 đại như Paul A. Samuelson và William D.Nordhaus (1948) thì định nghĩa rằng: “Lợi nhuận là một khoản thu nhập dôi ra bằng tổng số thu về trừ đi tổng số đã chi” hoặc cụ thể hơn là “Lợi nhuận được định nghĩa như là khoản chênh lệch giữa tổng thu nhập của một công ty và tổng chi phí”. Từ những quan điểm này, nhờ có lý luận vô giá về giá trị hàng hoá sức lao động, Marx là người đầu tiên đã phân tích nguồn gốc lợi nhuận một cách khoa học, sâu sắc và có ý nghĩa cả về kinh tế, chính trị. Theo ông, lợi nhuận là hình thái chuyển hóa của giá trị thặng dư, lợi nhuận và giá trị thặng dư có sự giống nhau về lượng và khác nhau về chất.
Ngày nay, khi nghiên cứu về lợi nhuận, chúng ta đều nghiên cứu dựa trên quan điểm của Karl Marx. Rami Zeitun và Gary Gang Tian (2007) thực hiện nghiên cứu các yếu tố tác động đến hiệu quả kinh doanh và giá trị thị trường của doanh nghiệp từ năm 1989 đến 2003 của 167 công ty trên sàn chứng khoán Amman – Jordan thuộc 16 ngành nghề kinh doanh khác nhau trong lĩnh vực phi tài chính. Hai tác giả sử dụng các mô hình thực nghiệm nhằm đánh giá tác động của cơ cấu vốn lên hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và chứng minh rằng một cơ cấu vốn phù hợp sẽ tối đa hóa được lợi nhuận và tối thiểu hóa chi phí. Năm 2010, Onaolapo và Kajola thực hiện nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp dưới góc độ tài chính, được đại diện bởi chỉ số tỷ suất lợi nhuận tài sản (ROA) và tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu (ROE).
Năm 2015, Achmad Saiful Ulum đã thực hiện nghiên cứu về vai trò của lợi nhuận đến giá trị của doanh nghiệp. Qua việc nghiên cứu các doanh nghiệp công nghiệp niêm yết tại thị trường chứng khoán Indonesia, tác giả chứng minh lợi nhuận có sức ảnh hưởng rất lớn lên giá trị của doanh nghiệp, trong đó chỉ ra tỷ suất lợi nhuận tài sản (ROA) là chỉ số quan trọng nhất. Một số các tác giả khác thực hiện phân tích các 5 nhân tố tác động lên lợi nhuận và đề xuất giải pháp nhằm đạt được mức lợi nhuận tối ưu. Các nghiên cứu ở trong nước Tại nước ta cũng có khá nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề lợi nhuận và giải pháp nâng cao lợi nhuận tại các doanh nghiệp.
Do đặc thù hoạt động của các doanh nghiệp, hầu hết các nghiên cứu về phân tích lợi nhuận được chia làm hai nhóm: nhóm nghiên cứu các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh (công/ nông nghiệp) và nhóm nghiên cứu các doanh nghiệp thương mại và dịch vụ. Để có cái nhìn tổng quát, chính xác về lợi nhuận, bằng các phương pháp nghiên cứu phổ biến như so sánh, phân tích, thống kê và diễn dịch, phần lớn các tác giả đi sâu phân tích doanh thu, chi phí, cùng các chỉ số tỷ suất lợi nhuận và những nhân tố ảnh hưởng lên các chỉ tiêu phân tích, tuy nhiên, có sự khác nhau trong việc lựa chọn các chỉ tiêu và nhân tố này. Nhóm nghiên cứu các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh thường tìm hiểu các chỉ tiêu tác động trực tiếp lên doanh thu, chi phí, mà cụ thể là các nhân tố khối lượng sản phẩm tiêu thụ, kết cấu mặt hàng tiêu thụ, giá thành, giá bán sản phẩm, chi phí nguyên vật liệu, nhân công, chi phí sản xuất chung hoặc thuế suất… Đi kèm với đó, các tác giả như Nguyễn Hoàng Phương Ngọc (2009), Võ Thị Mỹ Lệ (2010) tập trung phân tích các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận vốn cố định, vốn lưu động, vòng quay hàng tồn kho, các hệ số thanh toán, tỷ suất lợi nhuận giá thành, tỷ suất lợi nhuận doanh thu… Việc nâng cao lợi nhuận tại doanh nghiệp sản xuất kinh doanh sẽ phụ thuộc vào việc tăng cường tập trung sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm có tỷ trọng lợi nhuận cao, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa, phấn đấu quản lý chi phí nhằm hạ giá thành sản phẩm, tổ chức hợp lý khâu tiêu thụ sản phẩm… Nhóm còn lại tập trung nghiên cứu các doanh nghiệp thương mại dịch vụ, những doanh nghiệp đang không ngừng phát triển nhanh chóng về mặt số lượng và doanh thu cùng với sự phát triển của nền kinh tế. Các doanh nghiệp thuộc nhóm này đều không trực tiếp sản xuất ra vật chất, nên các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động 6 cũng như các nhân tố ảnh hưởng lên chúng đều khá đặc thù.
Các nhân tố tác động lên lợi nhuận của nhóm này thường được chia theo hai nhóm, khách quan và chủ quan. Các nhân tố khách quan bao gồm các tác động thuộc yếu tố vĩ mô như chính sách kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,… còn nhân tố chủ quan có thể là nguồn lực tài chính, nhân lực, cơ cấu tổ chức, sản phẩm dịch vụ… Các tác giả thuộc nhóm này Lê Quỳnh Trâm (2011), Phan Tuấn Thành (2013) đi sâu phân tích các tỷ suất lợi nhuận trên tài sản, trên vốn chủ sở hữu, sau đó dựa vào định hướng phát triển ngành cũng như của riêng đối tượng nghiên cứu, đưa ra các nhóm giải pháp để nâng cao lợi nhuận từ việc tăng thu nhập như mở rộng mạng lưới khách hàng, phát triển sản phẩm dịch vụ hoặc quản lý chi phí hiệu quả, nâng cao nguồn nhân lực, cải tiến công nghệ. Đi kèm với các giải pháp là kiến nghị đối với Chính phủ, các sở ban ngành nhằm tạo điều kiện phát triển cho các doanh nghiệp hoạt động lĩnh vực thương mại dịch vụ đặc thù. Kế thừa các nghiên cứu đã nêu ở trên, cùng với việc vận dụng kiến thức và kinh nghiệm sẵn có nhằm phân tích lợi nhuận tại Công ty cổ phần Chứng khoán Sài Gòn – Hà Nội dựa vào đặc thù ngành nghề, tác giả tìm ra các yếu tố tác động cụ thể, phân tích từng mảng hoạt động kinh doanh, từ đó đề xuất các giải pháp thích hợp và khả thi giúp tối đa hóa lợi nhuận tại doanh nghiệp nghiên cứu.
Khái quát chung về lợi nhuận 1. Khái niệm lợi nhuận Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của các hoạt động sản xuất kinh doanh, là chỉ tiêu chất lượng đánh giá hiệu quả kinh tế các hoạt động của doanh nghiệp. Lợi nhuận của doanh nghiệp là khoản tiền chênh lệch giữa thu nhập và chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra để đạt được thu nhập từ các hoạt động của doanh nghiệp đưa lại. Vai trò của lợi nhuận 1.
Đối với Doanh nghiệp Lợi nhuận có ý nghĩa rất lớn đối với doanh nghiệp, nó có tác động đến tất cả 7 hoạt động của doanh nghiệp, có ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình tài chính của doanh nghiệp. Việc phấn đấu thực hiện được chỉ tiêu lợi nhuận là điều quan trọng đảm bảo cho tình hình tài chính của doanh nghiệp được ổn định, vững chắc. Khi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đạt hiệu quả có nghĩa là doanh nghiệp là có lợi nhuận cao, điều đó cho thấy không những công ty bảo toàn được vốn kinh doanh ban đầu mà còn có một khoản lợi nhuận bổ sung thêm cho hoạt động kinh doanh của công ty. Trong điều kiện kinh tế thị trường cạnh tranh khốc liệt thì vốn có ý nghĩa rất quan trọng, nó cho phép các doanh nghiệp thực hiện các dự án có quy mô lớn, thực hiện đầu tư nghiên cứu đổi mới và hoàn thiện công nghệ, nâng cao uy tín và khả năng cạnh tranh của công ty trên thị trường.
Lợi nhuận là nguồn tích luỹ quan trọng giúp doanh nghiệp đầu tư chiều sâu mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, là điều kiện để củng cố thêm sức mạnh và uy tín của mỗi công ty trên thương trường.