Chương 1 nêu lên lý do hình thành đề tài, mục tiêu giải quyết vấn đề thông qua các câu hỏi và phạm vi của đề tài. Chương 2 nói tổng quan về chu trình phát triển Dự án, phương pháp và nội dung phân tích Dự án trên các quan điểm CĐT, TĐT và toàn xã hội. Chương 3 sẽ giới thiệu vị trí, quy mô, các bên liên quan đến Dự án và mô tả các thông số cơ sở cho việc thực hiện đề tài. Chương 4 tập trung phân tích tài chính Dự án trên quan điểm CĐT, TĐT và đưa ra kết luận tài chính cho Dự án.
Chương 5 sẽ xác định các biến nhạy cảm với kết quả tài chính Dự án để phân tích độ nhạy, kịch bản làm cơ sở cho kết luận. Chương 6 phân tích về kinh tế - xã hội thông qua những phân tích về ngoại tác, lợi ích và mất 6 Công ty Cổ phần Tư vấn Xây dựng Bách Khoa (2011, tr.105-108), “Chương 3”, Tập hồ sơ đề xuất dự án Đường trên cao Nhiêu Lộc – Thị Nghè, BETON 6 -5- mát của những đối tượng trong xã hội do Dự án tạo ra. Chương 7 sẽ tổng hợp các kết quả để đưa ra kết luận và kiến nghị chính sách về Dự án đến chính quyền TP. -6- Chƣơng 2 TỔNG QUAN VÀ PHƢƠNG PHÁP LUẬN Chương 2 đề cập các giai đoạn triển khai một dự án, từ chuẩn bị đầu tư qua đầu tư xây dựng đến vận hành dự án.
Đồng thời, cũng đề ra các phương pháp sử dụng trong việc phân tích dự án trên các quan điểm khác nhau thông qua phân tích tài chính, kinh tế, rủi ro và xã hội. Chu trình phát triển của một dự án Một dự án xây dựng tại Việt Nam phải trải qua các bước, chuẩn bị đầu tư, đầu tư xây dựng và vận hành dự án. Chuẩn bị đầu tƣ Ở giai đoạn này, Dự án Đường trên cao Nhiêu Lộc - Thị nghè cần được chuẩn bị tốt các công tác, phân tích sự cần thiết phải đầu tư và quy mô xây dựng công trình; khảo sát, điều tra chọn địa điểm xây dựng công trình; thăm dò, tìm hiểu thị trường trong nước và ngoài nước nhằm nắm bắt các kỹ thuật cần thiết cho đường trên cao; tìm được nguồn cung ứng vật tư, thiết bị cần thiết cho xây dựng và vận hành; khả năng huy động các nguồn vốn đầu tư và lựa chọn hình thức đầu tư; lập dự án đầu tư; và trình đến cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư, tổ chức cho vay vốn đầu tư và cơ quan thẩm định dự án. Đầu tƣ xây dựng Đây là giai đoạn quan trọng nhất trong việc thực hiện quá trình đầu tư với việc vật chất hóa vốn đầu tư thành tài sản cố định cho nền kinh tế.
Do đó, việc tiến hành đầu tư, triển khai xây dựng phải đảm bảo tiến độ và chất lượng công trình. Vận hành dự án Sau khi hoàn thành việc xây dựng Dự án, CĐT sẽ vận hành dự án thông qua khai thác, sử dụng toàn bộ công năng của công trình, hoàn thiện tổ chức và phương pháp quản lý nhằm thu phí hiệu quả, đồng thời phải duy tu, bảo dưỡng hàng năm nhằm duy trì tốt chất lượng của dự án đảm bảo an toàn cho người tham gia lưu thông và mỹ quan Dự án. Chi phí vận hành, duy tu, bảo dưỡng hàng năm của Dự án trong đề tài được gọi chung là “Chi phí vận hành Dự án hàng năm”. Các quan điểm phân tích dự án Để đưa ra kết luận và kiến nghị hợp lý cho việc đầu tư Dự án, nội dung luận văn sẽ tập trung phân tích các quan điểm TĐT, CĐT, kinh tế và xã hội.7 Theo quan điểm TĐT (quan điểm ngân hàng) Quan điểm này còn được biết như quan điểm của ngân hàng, vì các ngân hàng coi dự án là một hoạt động có khả năng tạo ra những lợi ích tài chính và sử dụng những nguồn tài chính rõ ràng.
Các ngân hàng xem các dòng tài chính rót vào dự án, với cả lợi ích và chi phí được xác định theo giá tài chính của chúng. Qua phân tích những dòng tài chính tiềm năng này, các ngân hàng sẽ xác định được tính khả thi về mặt tài chính, nhu cầu cần vay vốn cũng như khả năng trả nợ vay của dự án. Theo quan điểm CĐT (quan điểm cổ đông) CĐT xem xét mức thu nhập ròng tăng thêm của dự án so với những gì họ có thể kiếm được trong trường hợp không có Dự án. Vì vậy, CĐT xem những gì mà họ bị mất đi khi thực hiện dự án là chi phí.
Ngoài ra, CĐT cộng vốn vay ngân hàng như khoản thu tiền mặt, và trừ tiền lãi vay và nợ gốc như khoản chi tiền mặt. Theo quan điểm kinh tế Theo quan điểm này, các hoạt động hy sinh để thực hiện dự án phải được xem là chi phí, các ngoại tác tích cực do dự án đem lại cho xã hội được xem là lợi ích. Bên cạnh đó, việc thẩm định kinh tế của một dự án được điều chỉnh theo thuế và trợ giá, không tính vốn vay vì chúng chỉ thể hiện luồng vốn chứ không phải là tài nguyên thực sự. Theo quan điểm xã hội Trọng tâm của quan điểm xã hội là phân phối thu nhập cho các thành phần kinh tế trong xã hội.
Các nhà phân tích tính toán lợi ích tài chính ròng mà dự án mang lại cho các nhóm đối tượng chịu ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp từ dự án sau khi đã trừ đi chi phí cơ hội của họ. Phân tích phân phối thu nhập được xây dựng trên cơ sở các phân tích kinh tế và tài chính với điều kiện chúng được thực hiện theo quan điểm của tất cả các bên liên quan đến dự án.11-13), “Chương 3”, Thẩm định đầu tư phát triển. Các nội dung phân tích dự án Trong khuôn khổ đề tài, nội dung sẽ được tập trung vào phân tích các vấn đề phân tích tài chính, phân tích kinh tế, phân tích rủi ro và phân tích xã hội. Phân tích tài chính Dự án Đường trên cao Nhiêu Lộc - Thị Nghè muốn triển khai xây dựng được, trước hết phải vững mạnh về mặt tài chính trên quan điểm của tổng đầu tư (TĐT) và chủ đầu tư (CĐT).
Tài chính trên quan điểm TĐT được phân tích dựa trên nguyên tắc ước lượng ngân lưu tài chính của Dự án rồi chiết khấu ngân lưu này về hiện tại bằng suất chiết khấu bình quân trọng số. Tài chính trên quan điểm CĐT được phân tích dựa trên ngân lưu tài chính Dự án cộng ngân lưu nợ vay và vốn ngân sách rồi chiết khấu về hiện tại bằng suất chiết khấu CĐT. Phân tích kinh tế Phân tích kinh tế là việc xác định giá trị thực của Dự án, hiệu quả kinh tế - xã hội mà Dự án mang lại cho nền kinh tế. Hiệu quả kinh tế - xã hội của Dự án được đo lường bằng cách so sánh chi phí vận hành phương tiện và thời gian lưu thông của các loại phương tiện trên Tuyến đường hiện hữu và trên Dự án tính từ vòng xoay Lăng Cha Cả đến cầu Sài Gòn.
Việc phân tích kinh tế dựa trên nguyên tắc ước lượng ngân lưu kinh tế của Dự án rồi chiết khấu về hiện tại với suất chiết khấu là chi phí vốn của nền kinh tế. Phân tích rủi ro Khi tiến hành phân tích Dự án, cần phải xem xét khả năng xảy ra sự khác biệt giữa kết quả thực tế và kết quả kỳ vọng theo kế hoạch. Trong quá trình phân tích, các kết quả của Dự án được đưa ra sau khi phân tích luôn tồn tại những yếu tố ngẫu nhiên, bất định. Vì vậy, đề tài sẽ tiến hành phân tích rủi ro để xem xét sự thay đổi kết quả Dự án khi các yếu tố liên quan đến Dự án thay đổi theo hướng bất lợi.
Phân tích rủi ro được tiến hành theo trình tự từ phân tích độ nhạy, qua phân tích kịch bản, rồi đến phân tích mô phỏng. Phân tích xã hội Phân tích xã hội liên quan đến việc xác định, lượng hóa những tác động kinh tế phát sinh hay ngoại tác của Dự án. Những tác động này bao gồm ảnh hưởng của Dự án đối với phúc lợi của -9- những nhóm liên quan trong xã hội vì hiếm khi một dự án có thể mang lại lợi ích cho mọi người dân trong xã hội một cách đồng đều. Dù phân tích hiệu quả xã hội có thế ít chính xác hơn phân tích tài chính hoặc kinh tế của một dự án, nhưng để có ý nghĩa, phần đánh giá xã hội thường gắn liền với cùng những yếu tố đã được sử dụng trong phân tích tài chính và kinh tế.
Giá trị ròng của ngoại tác NPVext được xác định bởi chênh lệch NPVe và NPVf cùng chiết khấu theo suất chiết khấu kinh tế EOCK. NPVext = NPVee - NPVfe (2.1) Trong đó: NPVee : Ngân lưu kinh tế ròng Dự án chiết khấu theo EOCK; NPVfe : Ngân tài chính ròng Dự án chiết khấu theo EOCK. Các phƣơng pháp sử dụng trong phân tích tài chính Phân tích tài chính thường dùng các phương pháp Phƣơng pháp giá trị hiện tại ròng (NPV) Một dự án có được xây dựng hay không tùy thuộc vào lợi ích đem lại của dự án có lớn hơn chi phí hay không, nhưng lợi ích thu được và chi phí bỏ ra của dự án thường không cùng thời điểm trong suốt vòng đời dự án. Do đó, dòng lợi ích và chi phí cần phải đưa về cùng một thời điểm để so sánh thông qua kỹ thuật chiết khấu, kết quả chiết khấu dòng lợi ích và chi phí về hiện tại chính là giá trị hiện tại ròng của NPV.
Xác định NPV trên quan điểm TĐT, CĐT, ngân sách và toàn nền kinh tế với các suất chiết khấu thích hợp thể hiện được chi phí cơ hội của vốn. Suất chiết khấu tương ứng lần lượt là chi phí vốn bình quân trọng số (WACC), chi phí vốn CĐT, chi phí vốn ngân sách và chi phí vốn nền kinh tế. Giá trị hiện tại ròng NPV được tính theo công thức sau: Ct NPV Bt n (2. WACC được tính theo công thức sau: ( ) ( ) ( ) (2.3) Trong đó: rBT6: Chi phí vốn của BETON 6; rD : Chi phí vốn nợ vay; E: Vốn đầu tư Dự án của BETON 6; D: Vốn vay đầu tư Dự án; V: Tổng vốn đầu tư; tc : Thuế TNDN.
Tiêu chuẩn đánh giá: Nếu NPV ≥ 0, quyết định đầu tư; Nếu NPV < 0, quyết định không đầu tư.