CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH LAO ĐỘNG VÀ THU NHẬP CỦA LAO ĐỘNG TRONG CÔNG TY TNHH HẢI ĐỨC. Cơ sở lý luận của việc phân tích lao động và thu nhập của người lao động trong Doanh nghiệp 1. Khái niệm về lao động Theo quan điểm của C.Mác định nghĩa: “ Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người tác động vào giới tự nhiên nhằm làm thay đổi những vật thể tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người”. Lao động trong danh sách của doanh nghiệp là những người lao động đã được ghi tên vào danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trực tiếp quản lý, sử dụng sức lao động và trả lương.
Như vậy, lao động là hoạt động không thể thiếu của con người bởi lao động không chỉ tạo ra của cải vật chất để nuôi sống con người mà còn phát triển con người về mặt thể chất và tri thức. Tuy nhiên đó là theo quan điểm trước đây, còn ngày nay khi khoa học phát triển thì lao động không chỉ đơn thuần như thế mà nó đòi hỏi có trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ cao. Năng suất lao động: là một phạm trù kinh tế nói lên kết quả hoạt động sản xuất của người lao động trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp. Đó là phạm trù kinh tế biểu hiện kết quả đạt được trên một đơnn vị chi phí.
Về lao động hay lượng lao động hao phí cho một đơn vị kết quả sản xuất kinh doanh. Phân loại lao động: Thường được chia làm 2 loại là lao động trực tiếp và lao động gián tiếp. + Lao động trực tiếp: là những người tham gia trực trực tiếp vào quá trình sản xuất, họ là những người điểu khiển vận hành máy móc trong quá trình tạo ra sản phẩm cho doanh nghiệp. + Lao động gián tiếp: là lao động phải thông qua hệ thống tổ chức và tập thể lao động mới tác động vào sản xuất.
Lao động này có chức năng vạch ra phương hướng, tổ chức điều hành, phối hợp kiểm tra hoạt động của những người sản xuất. - Tổng thu nhập của người lao động là toàn bộ số tiền mà người lao động thu được ở một kỳ nào đó gồm tiền lương, tiền thưởng, tiền nhận được từ bảo hiểm xã hội và các khoản thu nhập khác. SV:Đào Thị HồngLuyên 6 Lớp: K8CK8B Trường đại học thương mại Khóa luận tốt nghiệp + Thu nhập cuối cùng là phần thu nhập mà người lao động nhận được sau khi đã trừ đi các khoản phải nộp ( BHYT, BHXH, kinh phí công đoàn…). + Thu nhập thực tế được hiểu là thu nhập cuối cùng, hay nói cách khác là toàn bộ giá trị hàng hóa và công việc dịch vụ mà người lao động đã mua được từ thu nhập cuối cùng.
+ Thu nhập bao gồm tiền lương, tiền thưởng, BHXH, thu nhập khác. Vai trò của lao động Lao động là một trong những yếu tố quyết định nhất đến sự tác động tăng trưởng kinh tế vì tất cả của cải vật chất và tinh thần của xã hội đều do con người tạo ra, trong đó lao động đóng vai trò trực tiếp sản xuất ra của cải vật chất đó. Do đó, lao động đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất kinh doanh. Nó đảm bảo sự hình thành, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Doanh nghiệp muốn đạt hiệu quả cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh thì phải nâng cao năng suất lao động. Ngoài ra, lao động còn là nhân tố giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh. Bởi một doanh nghiệp dù có công nghệ sản xuất hiện đại thế nào nếu lao động không có trình độ tương ứng để đáp ứng với công nghệ đó thì chắc chắn sẽ không đạt kết quả tốt, không những thế còn có thể làm tổn hại đến những công nghệ sản xuất đó. Tóm lại, nâng cao hiệu quả sử dụng lao động là việc làm hết sức quan trọng và cần thiết đối với tất cả các doanh nghiệp.
Bởi vì sử dụng lao động có hiệu quả sẽ giúp doanh nghiệp làm ăn kinh doanh tốt, giảm chi phí sản xuất…điều đó sẽ giúp doanh nghiệp đứng vững trên thị trường và mở rộng thị phần, tăng khả năng cạnh tranh với các đối thủ trên thị trường. Phân loại lao động Phân loại theo tác dụng của lao động đối với quá trình sản xuất + Lao động trực tiếp sản xuất: Là lao động trực tiếp gắn liền với quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm: công nhân và những người học nghề. - Công nhân: là những người trực tiếp sản xuất hoặc trực tiếp tham gia vào quá trình sản xuất sản phẩm. Tùy theo vai trò, toàn bộ công nhân được chia thành công nhân phụ và công nhân chính.
SV:Đào Thị HồngLuyên 7 Lớp: K8CK8B Trường đại học thương mại Khóa luận tốt nghiệp - Học nghề: là những người học kỹ thuật sản xuất dưới sự hướng dẫn của công nhân lành nghề. Lao động của họ cũng góp phần trực tiếp vào việc tạo ra sản phẩm của đơn vị. + Lao động gián tiếp: Phải thông qua hệ thống tổ chức và tập thể lao động mới tác động vào sản xuất. Lao động này có chức năng vạch ra phương hướng, tổ chức điều hành phối hợp kiểm tra hoạt động của những người sản xuất.
Lao động gián tiếp gồm có: - Lao động quản lý kỹ thuật: là những người tổ chức quản lý chỉ đạo sản xuất, kiểm tra kỹ thuật và kiểm tra chất lượng sản phẩm. - Lao động quản lý kinh tế: là những người lao động chỉ đạo sản xuất kinh doanh hoặc làm công tác nghiệp vụ thống kê, kế hoạch, tiền lương… - Nhân viên quản lý hành chính: là những người làm công tác tổ chức hành chính, quản trị, kế toán, văn thư… Theo tính chất ổn định + Lao động thường xuyên: là những lao động được tuyển dụng làm những công việc lâu dài, thường xuyên, bao gồm: lao động biên chế, lao động hợp đồng dài hạn, kể cả lao động trong thời gian tập sự nhưng sẽ được sử dụng thường xuyên lâu dài. + Lao động tạm thời: là những lao động làm những công việc mang tính chất thời vụ, hoặc do yêu cầu đột xuất. Theo độ tuổi Việc phân loại này rất quan trọng vì nó giúp cho doanh nghiệp nắm được số lao động sắp nghỉ hưu để tiến hành tuyển chọn lao động mới, thay thế và tiến hành đào tạo nâng cao tay nghề cho lực lượng lao động trẻ.
Theo trình độ chuyên môn của người lao động: + Trình độ công nhân: số lao động này thường là lực lượng trực tiếp sản xuất trong doanh nghiệp. + Trình độ cao đẳng, đại học và trên đại học: đây là số lượng lao động được doanh nghiệp sử dụng trong quản lý về tổ chức và kỹ thuật. + Trình độ trung cấp: SV:Đào Thị HồngLuyên 8 Lớp: K8CK8B Trường đại học thương mại Khóa luận tốt nghiệp Theo giới tính: Phân loại lao động theo giới tính giúp doanh nghiệp xác định được cơ cấu lao động trong doanh nghiệp mình. Các chỉ tiêu về thống kê lao động Doanh nghiệp muốn đánh giá được tình hình sử dụng lao động một cách chính xác thì không thể dựa vào một hay một số chỉ tiêu mà phải hệ thống hóa các chỉ tiêu.
- Nhóm chỉ tiêu thống kê số lượng lao động Số lượng lao động của doanh nghiệp là những người lao động đã được ghi tên, đăng ký vào sổ lao động của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trực tiếp quản lý sử dụng lao động và trả lương. Theo chế độ báo cáo thống kê hiện hành, các doanh nghiệp cần lập báo cáo 6 tháng, năm về tình hình lao động và thu nhập của người lao động. Trong đó bao gồm các chỉ tiêu phản ánh số lượng lao động như sau: - Số lao động có đến cuối kỳ: phản ánh số lượng lao động tại thời điểm ngày cuối của kỳ báo cáo. Đây là lực lượng có thể sử dụng trong kỳ tới.
- Số lượng lao động bình quân trong kỳ: là số lao động đại diện điển hình trong một thời kỳ nhất định tháng, quý hoặc năm. Số lao động bình quân có thể được tính bằng nhiều phương pháp. Trường hợp khi có số lao động đầu kỳ, cuối kỳ (T): Trong đó: T: số lượng lao động : số lao động đầu kì nghiên cứu : số lao động cuối kì nghiên cứu Trường hợp khi có số lao động ở các thời điểm Trong đó: : số lao động có tại các thời điểm trong kỳ nghiên cứu ( i=1,n) n: là tổng số các thời điểm không gian bằng nhau SV:Đào Thị HồngLuyên 9 Lớp: K8CK8B Trường đại học thương mại Khóa luận tốt nghiệp - Khoảng cách thời gian không bằng nhau: Trong đó: : số lao động bình quân (phản ánh quy mô lao động của doanh nghiệp) : số lao động có trong ngày I của kỳ nghiên cứu ( i=1,n) : số ngày của thời kỳ i Trường hợp có tất cả số lao động của các ngày trong kỳ: Trong đó: : số lao động có trong ngày I của kỳ nghiên cứu ( i=1,n) n: số ngày của thời kỳ i Nhóm chỉ tiêu thống kê chất lượng lao động Muốn phản ánh chất lượng lao động cần sử dụng các chỉ tiêu sau: - Thâm niên nghề bình quân ( ) Trong đó: : Mức thâm niên công tác thứ I của lao động ( i=1,n) : số lao động có mức thâm niên : tổng số lao động tham gia có tính thâm niên nghề. Thâm niên ghề có tính cho từng bộ phận thuộc lao động làm công ăn lương.
Thâm niên nghề bình quân của từng bộ phận lao động tăng lên phản ánh trình độ chuyên môn và trình độ thành thạo tăng lên. - Bậc thợ bình quân ( BT ) Trong đó: : bậc thợ thứ i ( i=1,n ) : số lượng lao động tương ứng với bậc : tổng số lao động tham gia tính bậc thợ bình quân. SV:Đào Thị HồngLuyên 10 Lớp: K8CK8B Trường đại học thương mại Khóa luận tốt nghiệp Bậc thợ bình quân có thể tính cho một tổ lao động, một phân xưởng, một ngàng thợ của công nhân sản xuất. Chỉ tiêu cũng áp dụng tính cho các bộ phận lao động quản lý, lao động kỹ thuật…thuộc lực lượng làm công ăn lương của doanh nghiệp.
Bậc thợ bình quân phản ánh trình độ chuyên môn kỹ thuật và tay nghề của lao động tại thời điểm nghiên cứu. Nhóm chỉ tiêu thống kê thời gian lao động Thời gian lao động là một trong những chỉ tiêu phản ánh tình hình sử dụng lao động trong các doanh nghiệp.