CHƯƠNG 1 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG KINH TẾ HUYỆN SA THẦY 1. Điều kiện tự nhiên 1. Vị trí địa lý Sa Thầy có diện tích 1.435,22 km², dân số năm 2019 là 49.914 người, mật độ dân số đạt 35 người/km². Đây là huyện miền núi biên giới, là một trong những huyện có mật độ dân số thấp nhất Việt Nam.
Trong huyện có nhiều dự án thủy điện lớn như: thủy điện Sê San 3A, thủy điện Ya Ly, thủy điện Plei Krông,. Do có vị trí ở ngã ba biên giới Việt Nam-Lào-Campuchia, Sa Thầy có tầm quan trọng về chính trị, kinh tế, quân sự, là nơi giao lưu văn hóa và kinh tế giữa Kon Tum với các tỉnh bạn ở Hạ Lào và Đông Bắc Campuchia. Lúc chưa tách huyện Ia H’Drai ra, Sa Thầy có tổng diện tích lên tới 2.415 km², là huyện có diện tích tự nhiên rộng thứ 3 ở Việt Nam lúc ấy (sau huyện Tương Dương ở Nghệ An và huyện Mường Tè ở Lai Châu) và xã Mô Rai (bao gồm cả ba xã Ia Dom, Ia Tơi, Ia Dal thuộc huyện Ia H’Drai) cũ thuộc Sa Thầy từng là một trong ba xã có diện tích rộng nhất Việt Nam. Địa hình Sa Thầy là vùng núi non hiểm trở, núi rừng (đất lâm nghiệp) rộng 195.362 ha chiếm 81% diện tích của huyện, địa hình bị chia cắt bởi núi cao, sông suối và thung lũng.
Dọc theo biên giới giáp Campuchia là núi rừng trùng điệp, có các ngọn cao như: Ngok Pha Ria, Ngok Gung Yang, Ngok Mô Bun. Chạy theo bờ tây sông Pô Kô, các ngọn núi nối tiếp nhau từ Bắc đến Nam như: Ngok Long Roua, Ngok Ring Rua, Chư Tơ Sung, Chu Mom Ray, Chu Gor Tong, Chu Dron, Chu Granuel. giữa các dãy núi là thung lũng chạy theo triền các sông suối, có độ dốc thấp, nhiều bãi bằng, đất bồi tụ phì nhiêu, thích hợp với nhiều loại cây trồng. Huyện Sa Thầy có 3 dạng địa hình chính là: - Địa hình núi cao: Có độ cao trung bình từ 800-1.700 mét so với mực nước biển, bao gồm các dãy núi Chư Mo Ray, Ngọc Tơ Lum ở phía Tây Nam huyện với độ dốc phổ biến trên 250.
Đây là phần đất cần được khoanh nuôi, bảo vệ rừng và khai thác rừng hợp lý vì là rừng phòng hộ đầu nguồn của hồ thủy điện IaLy. - Địa hình đồi lượn sóng: có độ cao trung bình từ 500-800 mét so với mực nước biển, với độ dốc phổ biến từ 8-250. Trên địa hình này có điều kiện phát triển sản xuất cây công nghiệp lâu năm, nông lâm kết hợp, đồng thời rất phù hợp phát triển du lịch sinh thái kết hợp bay dù lượn. 7 - Địa hình đồng bằng, thung lũng hẹp và vùng đất bồi tụ: là địa bàn chủ yếu sản xuất lương thực, thực phẩm và cây công nghiệp hàng năm.
Khí hậu Sa Thầy nằm trên độ cao trung bình từ 500 - 800 mét. Nơi cao nhất là ngọn núi Chư Mom Ray (1.773 mét) nhiệt độ trung bình hằng năm là 23°C, lúc cao nhất lên đến 39°C, lúc thấp nhất thấp đến 5,5°C. Khí hậu chịu ảnh hưởng của gió mùa cao nguyên, hàng năm có hai mùa rõ rệt (mùa mưa, mùa khô), mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến cuối tháng 10, lượng mưa trung bình 1.737 mm, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau với khoảng 1989 giờ nắng; thời tiết về mùa mưa mát dịu, mùa nắng khô hanh, ban ngày nóng nực, ban đêm rét lạnh. Nhiệt độ Trung bình năm từ 20-230C, tổng tích trung bình năm trên 7.
Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối: 380C, thấp nhất tuyệt đối: 4,50C Mùa đông nhiệt độ tháng lạnh nhất vào tháng 1 và tháng 2, nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất 70C; chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm từ 7 đến 16,50C. Do đặc điểm địa hình nên những nơi thung lũng hẹp khuất gió nhiệt độ tăng cao về ban ngày và thấp về ban đêm. Tài nguyên rừng Tổng diện tích đất lâm nghiệp toàn huyện là 181.648 ha, chiếm 75,21% tổng diện tích đất tự nhiên. Diện tích đất rừng do lâm trường quản lý và sử dụng 171.312 ha, chiếm 70,93% diện tích đất rừng.
So với các huyện khác, huyện Sa Thầy có mật độ che phủ rừng còn rất cao. Diện tích đất rừng sản xuất 126.003 ha, chiếm 52,16% tổng diện tích tự nhiên, diện tích đất rừng phòng hộ 12.278 ha, chiếm 5,08% tổng diện tích tự nhiên, diện tích đất rừng đặc dụng 43.367 chiếm 17,95% tổng diện tích tự nhiên. Đặc điểm rừng huyện Sa Thầy có độ che phủ cao, thảm thực vật dày, còn nhiều khu rừng nguyên sinh có trữ lượng gỗ cao. Do công tác bảo vệ, khoanh nuôi và trồng mới trên địa bàn huyện trong những năm qua thực hiện tương đối tốt.
Diện tích rừng trồng toàn huyện 2. Tài nguyên đất Huyện có diện tích tự nhiên rộng lớn, với 10 loại đất. - Đất đỏ vàng trên đá phiến sét (Fs): phân bố ở khu vực đông bắc huyện. Thảm thực vật là rừng thường xanh trên các dạng địa hình khác nhau từ đồi thoải đến núi cao.
Thành phần cơ giới từ trung bình đến thịt nặng. Loại đất này có thể trồng cây lương thực ở vùng thấp, trồng rừng và phục hồi rừng ở vùng cao. - Đất đỏ vàng trên đá Macma axit (Fa): tập trung ở các xã Mo Ray, Rờ Kơi, Ya 8 Ly… Đất có thành phần cơ giới thịt nhẹ, lẫn nhiều sỏi thạch anh. - Đất đỏ vàng nhạt trên đá cát (Fq): phân bố rãi rác xen lẫn với đất đỏ vàng trên đá Macma axit.
Loại đất này được hình thành từ trầm tích sa thạch. Thành phần cơ giới thịt nhẹ, đa số có tầng đất mỏng, nghèo chất dinh dưỡng. Loại đất này nên để phát triển rừng phòng hộ và rừng sản xuất. - Đất xám trên phù sa cổ (X): phân bố trên phần cao ven suối Ya Xiêr, loại đất này phần lớn được khai thác trồng cây hàng năm.
Thành phần cơ giới thịt nhẹ, có kết von ở tầng sâu. - Đất xám trên đá Macma axit (Xa): phân bố ở các vùng thấp của huyện. đất có thành phần cơ giới nhẹ, thô, nhiều sỏi sạn, thạch cao. Vì phân bố ở địa hình thấp nên những nơi có điều kiện cấp nước có thể trồng lúa nước.
Những nơi thuận lợi có thể trồng màu, cây hàng năm. Những nơi không thuận lợi cho canh tác sẽ trồng rừng hoặc khoanh nuôi tái sinh rừng. - Đất Nâu vàng trên phù sa cổ (Fp): phân bố ở vùng trũng. Đất có tầng dày, thoát nước, ít chua, thành phần cơ giới nhẹ, hàm lượng dinh dưỡng trung bình đến khá.
Đây là loại đất tốt, thích hợp với nhiều loại cây trồng ngắn ngày và dài ngày có giá trị. - Đất phù sa ngòi suối (Py): phân bố rải rác ven các sông suối trong vùng. Đất có thành phần cơ giới nhẹ, tầng đất mịn và dày, ít chua, hàm lượng dinh dưỡng trung bình. Loại đất này cần khai thác triệt để để trồng hoa màu, cây lương thực đặc biệt là lúa nước.
- Đất mùn vàng đỏ trên đá Macma axit (Ha): phân bố ở độ dốc từ 900-1000 m, thành phần cơ giới thịt nhẹ, nhiều cát thô. Đặc điểm của loại đất này là phân bố trên địa hình dốc, bị chia cắt nên khi sử dụng cần chú ý chống xói mòn, rửa trôi đất. - Đất thung lũng, dốc tụ (D): Đất thung lũng, dốc tụ và đất phù sa có tầng loang lỗ đỏ vàng phân bố ở địa hình thấp ven khe suối, hợp thủy, được sử dụng triệt để để trồng lúa. - Đất xói mòn trơ sỏi đá (E): đa số có tầng mỏng, nhiều sỏi, sạn và lớp đá gốc xuất hiện ngay tầng mặt.
Loại đất này chỉ sử dụng để khoanh nuôi, bảo vệ, tái tạo diện tích rừng tự nhiên hiện có. Tài nguyên động, thực vật Tài nguyên thực vật rừng Sự đa dạng về địa hình, đất đai và khí hậu đã tạo nên môi trường thuận lợi cho sự sinh sống của nhiều hệ thực vật có thành phần rất đa dạng và phong phú. + Hệ thực vật Bắc Việt Nam - Nam Trung Hoa, chủ yếu là loài cây lá kim của ngành phụ hạt trần như: thông 3 lá, thông 2 lá, pơmu. Ngoài ra còn có các loại cây lá rộng của họ giẻ (Fagaceae) họ Thích (Aceraceae), họ Đỗ quyên (Ericaceae), họ Hồi 9 (Bliciaceae) phân bố trên địa hình núi cao và trung bình.
+ Hệ thực vật Indonexia, Malaixia: đại diện có họ Bàng (Combretaceae), họ Tử vi (lithraceae), họ Gạo (Bombaceae) phân bố trên kiểu địa hình núi thấp và cao nguyên. + Hệ thực vật tại chỗ gồm chi Dầu (Dipterocarrpus), chi Cà te (Pahudia), chi Chiêu liêu (Terminalia), chi Bồ hòn (Sepindus) phân bố ở hầu hết các địa hình. Các loại cây gỗ kinh tế: Trong tổ thành thực vật của Kon Tum có nhiều loài cây quý hiếm như: Trắc mật, Cẩm lai, Gụ mật, Hương trà, Dáng hương, Cà le, Cẩm thi, Muồng đen, Lát bông. Ngoài ra cần phải kể đến những cây có giá trị kinh tế như: Gội nếp, Vênh vênh, Huỳnh đường, Sao đen, Sao xanh, Săng lẻ.
dùng cho tàu thuyền, cầu cống. Hệ động vật Theo thống kê sơ bộ, tỉnh Kon Tum có hơn 300 loài thú và hơn 70 loài chim khác nhau, trong đó có nhiều loài được ghi trong sách đỏ Việt Nam như Voi, Hươu vàng, Cà Toong, Công. - Voi phân bố chủ yếu ở vùng rừng núi huyện Đăk Tô, Sa Thầy. Đây là loại thú dễ thuần hoá có thể sử dụng trong việc vận chuyển lâm sản và hàng hoá.
- Bò rừng hiện chỉ còn phân bố ở vùng huyện Sa Thầy với số lượng còn ít. - Nai, Hoẵng phân bố hầu hết các huyện trong tỉnh, nhưng tập trung nhiều ở vùng thung lũng huyện Sa Thầy. - Cà Toong và Hươu vàng là hai loại thú quý hiếm ở nước ta. Hiện còn phân bố ở phía Nam huyện KonPlông và Sa Thầy.
- Gấu có ở Sa Thầy, Đăk Tô, Đăk Glei và Kon Plông, là loài thú quý hiếm, cần được bảo vệ nghiêm ngặt. - Hổ là loại thú quý hiếm phân bố ở các huyện Đăk Glei, Sa Thầy, KonPlông. - Lợn rừng là loại thú có số lượng lớn phân bố ở khắp nơi. Tài nguyên nước Hiện nay trên địa bàn huyện Sa Thầy có 3 con sông lớn và nhiều suối nhỏ được phân bố đều trên địa bàn toàn huyện: - Sông Sa Thầy: nằm ở phía nam huyện, chảy theo hướng từ Bắc xuống Nam có nước quanh năm, diện tích lưu vực khoảng 150.000 ha, trên sông này xây dựng được các công trình thủy lợi, thủy điện lớn và nhỏ phục vụ sản xuất và đời sống cho tiểu vùng Mô Rai.