chương 1 khái quát những cơ sở lý luận liên quan đến DV NHĐT của ngân hàng thương mại. Thương mại điện tử Trong tiếng Anh, thương mại điện tử (TMĐT) là Electronic Commerce, viết tắt e-commerce. Ngân hàng điện tử (NHĐT) chính là TMĐT trong lĩnh vực ngân hàng. Có nhiều định nghĩa về TMĐT nhưng hiểu một cách ngắn gọn và tổng quát thì: TMĐT là việc thực hiện một phần hay toàn bộ hoạt động mua bán sản phẩm, dịch vụ trên các hệ thống điện tử, đặc biệt là Internet và mạng máy tính.
TMĐT mang lại lợi ích vượt trội cho cả bên mua và bán, thông qua các công cụ điện tử, hoạt động thương mại được thực hiện nhanh hơn, hiệu quả hơn. Lợi ích lớn nhất chính là tiết kiệm chi phí và sự thuận tiện. Các giao dịch TMĐT tiến hành rất nhanh, loại bỏ một số chi phí so với giao dịch truyền thống, đặc biệt là không bị giới hạn về không gian địa lý, linh hoạt tối đa về thời gian. Theo Thư viện Học liệu mở Việt Nam thì TMĐT có 3 cấp độ phát triển: Thứ nhất, cấp độ 1 – Thương mại thông tin (i-commerce): Doanh nghiệp có website trên mạng để cung cấp thông tin về sản phẩm, dịch vụ… Các hoạt động mua bán vẫn thực hiện theo cách truyền thống.
Thứ hai, cấp độ 2 – Thương mại giao dịch (t-commerce): Doanh nghiệp cho phép thực hiện giao dịch đặt hàng, mua hàng qua website trên mạng, có thể bao gồm cả thanh toán trực tuyến. 11 Thứ ba, cấp độ 3 – Thương mại tích hợp (c-business): Website của doanh nghiệp liên kết trực tiếp với dữ liệu trong mạng nội bộ của doanh nghiệp, mọi hoạt động truyền dữ liệu được tự động hóa, hạn chế sự can thiệp của con người và vì thế làm giảm đáng kể chi phí hoạt động và tăng hiệu quả. TMĐT được phia chia theo nhóm đối tượng dựa trên thành phần tham gia hoạt động thương mại, cụ thể: B2B: Thành phần tham gia hoạt động thương mại là các doanh nghiệp, tức người mua và người bán đều là doanh nghiệp. B2C: Thành phần tham gia hoạt động thương mại gồm người bán là doanh nghiệp và người mua là người tiêu dùng.
C2C: Thành phần tham gia hoạt động thương mại là các cá nhân, tức người mua và người bán đều là cá nhân. G2C: Hoạt động thương mại Chính phủ với công dân; G2B: Hoạt động thương mại Chính phủ với doanh nghiệp. Những lợi ích cốt lõi TMĐT mang lại cho doanh nghiệp đó là: Tăng doanh thu; cắt giảm chi phí hoạt động; marketing toàn cầu với chi phí cực thấp; dịch vụ tốt hơn cho khách hàng; lợi thế cạnh tranh. Ngân hàng điện tử NHĐT trong tiếng Anh là Electronic Banking, viết tắt là e-banking.
Hiện nay có rất nhiều cách định nghĩa về NHĐT. Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (2003) định nghĩa rằng: Ngân hàng điện tử là việc cung cấp các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng bán lẻ có giá trị thấp thông qua các kênh điện tử cũng như các dịch vụ thanh toán điện tử có giá trị lớn và các dịch vụ ngân hàng bán buôn được cung cấp qua các kênh điện tử. Ngân hàng điện tử được hiểu là các nghiệp vụ, các sản phẩm dịch vụ ngân hàng truyền thống trước đây được phân phối qua các kênh mới như Internet, điện thoại, mạng không dây. Hay nói cách khác ngân hàng điện tử là một trong những ứng dụng 12 công nghệ hiện đại nhằm hỗ trợ khách hàng thực hiện các giao dịch ngân hàng mọi lúc, mọi nơi một cách an toàn và nhanh chóng (Nguyễn Phan Yến Phương, 2016).
Dịch vụ ngân hàng điện tử ra đời là một xu thế tất yếu, đáp ứng được nhu cầu thanh toán của người dân Việt Nam. Tuy nhiên, do thói quen tiêu dùng tiền mặt, nên dịch vụ ngân hàng điện tử chưa phát triển mạnh, các hình thức dịch vụ còn tương đối đơn giản. Ngân hàng điện tử diễn ra ở tất cả các giao dịch giữa ngân hàng và khách hàng dựa trên quá trình xử lý và chuyển giao dữ liệu số hóa nhằm cung cấp sản phẩm dịch vụ ngân hàng (Phạm Đức Tài, 2014). Qua các khái niệm trên, có thể hiểu một cách ngắn gọn về ngân hàng điện tử là các dịch vụ ngân hàng được cung cấp thông qua các hệ thống điện tử, các công cụ điện tử và mạng viễn thông.
Vai trò của ngân hàng điện tử Có thể thấy đặc tính của dịch vụ (DV) NHĐT so với các DV ngân hàng (NH) truyền thống là khá ưu việt, tuy chi phí đầu tư công nghệ ban đầu tương đối tốn kém, nhưng bù lại tiện ích mà NHĐT mang lại cho cả NH và khách hàng (KH) là rất lớn. Hơn nữa, phát triển NHĐT còn mang tính khách quan trong nền kinh tế số, trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, ảnh hưởng nhất định đến môi trường vĩ mô. Đối với nền kinh tế Giúp quá trình thanh toán trở nên dễ dàng hơn, nhanh chóng hơn; giúp quá trình lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế trở nên thuận tiện hơn, tăng hiệu quả quá trình sử dụng vốn, qua đó đáp ứng các nhu cầu về vốn trong nền kinh một cách hiệu quả. Thanh toán điện tử sẽ biến từ nền kinh tế tiền mặt, thủ công sang nền kinh tê số, hiện đại.
Đối với chính phủ Thông qua hệ thống NHĐT, chính phủ có thể kiểm soát hầu hết các chu chuyển tiền tệ, từ đó hạn chế được các án tham nhũng, các phi vụ rửa tiền, chuyển tiền bất 13 hợp pháp… Đây thực sự cấp thiết đối với Việt Nam hiện nay, khi bị xếp vào một trong số các quốc gia có tỷ lệ tham nhũng cao trên thế giới. Đối với ngân hàng Tiết kiệm chi phí, tăng doanh thu: Phí giao dịch các dịch vụ NHĐT ở mức thấp so với DV ngân hàng truyền thống, đặc biệt là qua Internet, góp phần tăng doanh thu cho nhà băng. Mở rộng phạm vi hoạt động, tăng khả năng cạnh tranh: NHĐT là giải pháp tốt để các NH nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động, qua đó nâng cao khả năng cạnh tranh của ngân hàng. NHĐT là công cụ quảng bá thương hiệu của NH một cách sinh động, hiệu quả, giúp thực hiện chiến lược toàn cầu hóa mà không cần mở thêm chi nhánh ở trong nước cũng như ngoài nước.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn: Thông qua các DV NHĐT, các lệnh về chi trả, thu hộ của KH được thực hiện nhanh chóng, tạo điều kiện cho vốn tiền tệ được chu chuyển nhanh. Qua đó đẩy nhanh tốc độ lưu thông hàng hóa, tiền tệ. Cung cấp các dịch vụ trọn gói: Các ngân hàng có thể liên kết với các công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán, công ty tài chính để đưa ra các sản phẩm tiện ích đồng bộ nhằm đáp ứng các nhu cầu của một khách hàng về các dịch vụ liên quan đến ngân hàng, bảo hiểm, đầu tư, chứng khoán… Tăng khả năng chăm sóc và thu hút khách hàng: NHĐT với mô hình ngân hàng hiện đại, kinh doanh đa năng sẽ cung cấp cho KH các DV chăm sóc chất lượng nhất, giúp KH có được sự hài lòng và tin cậy hơn. Đối với khách hàng Nhanh chóng, thuận tiện: Các dịch vụ NHĐT giúp KH liên lạc với NH một cách nhanh chóng và thuận tiện để thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng tại bất kỳ thời điểm nào (24 giờ trong ngày, 7 giờ trong tuần) và bất kỳ nơi đâu.
Đây là lợi ích cốt yếu mà các DV truyền thống khó có thể đạt được. 14 An toàn: KH không cần phải mang tiền mặt trực tiếp đến các điểm giao dịch nên hẹn chế được rủi ro. Trong trường hợp bị mất hay thất lạc các phương tiện thực hiện giao dịch điện tử (Thẻ, mã PIN…), mọi thông tin về tài khoản của KH vẫn được bảo mật và được cấp lại từ NH. Tiết kiệm chi phí: Chi phí giao dịch qua NHĐT là rất thấp nên góp phần tăng thu nhập cho KH.
Các giai đoạn phát triển của ngân hàng điện tử Năm 1989, Ngân hàng Wells Fargo tại Mỹ đã lần đầu tiên cung cấp DV ngân hàng qua mạng. Từ đó đã có rất nhiều nghiên cứu, thử nghiệm trên con đường phát triển hệ thống NHĐT càng ngày hoàn thiện, phục vụ tốt nhất cho KH như hiện nay. Nhìn chung, có thể tóm lược quá trình phát triển của NHĐT qua các giai đoạn sau: Trang mạng quảng cáo (Brochure-ware): Là hình thái đơn giản nhất của ngân hàng điện tử. Hầu hết các NH khi mới bắt đầu triển khai NHĐT đều đi theo mô hình này.
NH sẽ phải mở một trang mạng riêng, sau đó đưa thông tin và sản phẩm lên nhằm quảng cáo, giới thiệu, chỉ dẫn, liên lạc… Thực chất đây chỉ là một kênh quảng cáo mới ngoài những kênh truyền thống (báo chí, truyền hình…), mọi giao dịch của NH vẫn thực hiện trực tiếp qua các DV truyền thống tại các điểm giao dịch, chi nhánh ngân hàng. Thương mại điện tử (e-commerce): Trong giai đoạn này, các giao dịch trực tuyến được xem như một kênh phân phối bổ sung, chỉ có một vài nghiệp vụ được ngân hàng thực hiện thông qua Internet như: Truy vấn tài khoản, thông báo thông tin giao dịch… Hầu hết các hệ thống ngân hàng vừa và nhỏ đang ở hình thái này. Kinh doanh điện tử (e-Business): Sang giai đoạn này, các nghiệp vụ ngân hàng cơ bản ở cả phía quản lý cũng như KH đều được tích hợp với Internet và các kênh phân phối khác. Hình thái phát triển này được phân biệt bởi sự gia tăng về sản phẩm và chức năng của ngân hàng với sự phân biệt sản phẩm theo nhu cầu và quan hệ của KH với NH.
Ngoài ra, việc chia sẻ dữ liệu giữa NH và các kênh phân phối như điểm giao dịch; chi nhánh, mạng không dây, Internet… giúp xử lý các tác vụ nhanh chóng, 15 chính xác và nâng cao trải nghiệm cho KH. Nhờ Internet và sự phát triển của công nghệ, việc liên kết và chia sẻ dữ liệu giữa NH, KH và cơ quan quản lý… được cải thiện đáng kể. Các hệ thống ngân hàng phát triển trên thế giới đã triển khai được mô hình này và đang hướng tới hình thái NHĐT hoàn chỉnh. Ngân hàng điện tử (e-Banking): Là hình thái lý tưởng mà các NH hướng đến trong nền kinh tế số hiện nay, có thể nói đây là một cuộc cách mạng trong lĩnh vực ngân hàng khi sẽ thay đổi hoàn toàn mô hình kinh doanh và cách thức quản lý.
Các NH sẽ tận dụng sức mạnh của mạng Internet cung cấp các giải pháp tài chính cho KH một cách tối ưu nhất.