Tổng quan nghiên cứu

Thị trường thuốc cổ truyền và thuốc dược liệu tại Việt Nam đang có bước phát triển mạnh mẽ nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe tự nhiên của người dân. Theo số liệu thống kê từ Cục Quản lý Y, Dược cổ truyền, hàng năm ngành dược Việt Nam sử dụng khoảng 60.000 tấn dược liệu các loại. Tuy nhiên, có tới 80% đến 85% nguồn dược liệu phải nhập khẩu từ nước ngoài, trong đó chỉ có khoảng 1.400 tấn có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng. Thực trạng này tiềm ẩn nguy cơ lớn về dược liệu giả, dược liệu kém chất lượng và tồn dư hóa chất bảo vệ thực vật, gây ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả điều trị và sức khỏe người bệnh.

Trong bối cảnh đó, hệ thống kiểm nghiệm thuốc tuyến tỉnh đóng vai trò chốt chặn then chốt trong việc kiểm soát chất lượng lưu thông trên thị trường. Luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng và đánh giá năng lực kiểm nghiệm vị thuốc cổ truyền và thuốc dược liệu tại Trung tâm Kiểm nghiệm tỉnh Bắc Ninh. Mục tiêu cụ thể của đề tài là mô tả cơ cấu mẫu thuốc đã kiểm nghiệm và phân tích sâu khả năng đáp ứng các chỉ tiêu kỹ thuật theo tiêu chuẩn chất lượng hiện hành trong năm 2020.

Phạm vi nghiên cứu bao quát 241 mẫu kiểm nghiệm (gồm 43 vị thuốc cổ truyền và 198 thuốc dược liệu) được thu thập từ ngày 01/01/2020 đến ngày 31/12/2020 trên địa bàn toàn tỉnh Bắc Ninh. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài thể hiện qua việc làm sáng tỏ khoảng cách giữa năng lực kỹ thuật thực tế với yêu cầu của Dược điển Việt Nam V. Nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ mẫu được kiểm nghiệm đủ 100% chỉ tiêu chỉ đạt 24,9%, đồng thời xác định 62,4% nguyên nhân chỉ tiêu không thực hiện được là do thiếu hụt trang thiết bị máy móc và 31,5% do thiếu chất chuẩn. Kết quả này cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng cho các nhà quản lý y tế địa phương xây dựng chiến lược đầu tư và nâng cao năng lực kiểm nghiệm trong giai đoạn tiếp theo.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên khung lý thuyết quản lý chất lượng thuốc toàn diện và hệ thống văn bản quy phạm pháp luật dược phẩm hiện hành tại Việt Nam. Cơ sở pháp lý nền tảng bao gồm Luật Dược số 105/2016/QH13 với các quy định nghiêm ngặt tại Điều 102 về quy chuẩn, tiêu chuẩn chất lượng thuốc và Điều 103 về công tác kiểm nghiệm thuốc, nguyên liệu làm thuốc. Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng các hướng dẫn chuyên môn từ Thông tư số 11/2018/TT-BYT quy định về chất lượng thuốc, nguyên liệu làm thuốc và Thông tư số 13/2018/TT-BYT quy định về chất lượng dược liệu, thuốc cổ truyền.

Khung phân tích của luận văn tích hợp 5 khái niệm chuyên ngành then chốt:

  • Vị thuốc cổ truyền: Dược liệu được chế biến theo lý luận và phương pháp y học cổ truyền để làm thuốc hoặc chữa bệnh.
  • Thuốc dược liệu: Thuốc có thành phần từ dược liệu với tác dụng điều trị được chứng minh bằng bằng chứng khoa học.
  • Tiêu chuẩn chất lượng: Văn bản kỹ thuật quy định các chỉ tiêu, mức giới hạn và phương pháp kiểm nghiệm, bao gồm Tiêu chuẩn quốc gia (Dược điển Việt Nam) và Tiêu chuẩn cơ sở (TCCS).
  • Thực hành tốt phòng kiểm nghiệm thuốc (GLP) và tiêu chuẩn ISO/IEC 17025: Hệ thống quản lý chất lượng đảm bảo độ tin cậy và tính khách quan của kết quả thử nghiệm.
  • Bộ chỉ tiêu kiểm tra chất lượng toàn diện: Bao gồm các phép thử cảm quan, soi bột, vi phẫu, định tính, định lượng hoạt chất, độ tinh khiết và thử giới hạn an toàn.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp phương pháp nghiên cứu hồi cứu dữ liệu. Toàn bộ hồ sơ lưu trữ kiểm nghiệm, sổ tay phân tích và phiếu kết quả kiểm nghiệm tại Trung tâm Kiểm nghiệm tỉnh Bắc Ninh trong mốc thời gian từ ngày 01/01/2020 đến ngày 31/12/2020 được đưa vào phân tích.

  • Cỡ mẫu nghiên cứu: Nghiên cứu khảo sát toàn bộ 241 mẫu vị thuốc cổ truyền và thuốc dược liệu được lấy và tiếp nhận kiểm nghiệm trong năm 2020, bao gồm 43 mẫu vị thuốc cổ truyền và 198 mẫu thuốc dược liệu thành phẩm.
  • Phương pháp chọn mẫu: Áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện toàn bộ, thu thập 100% hồ sơ kiểm nghiệm phát sinh trong năm 2020 mà không qua chọn mẫu ngẫu nhiên xác suất, giúp loại bỏ sai số chọn mẫu và phản ánh toàn diện bức tranh thực tế của đơn vị.
  • Công cụ và phương pháp phân tích: Dữ liệu được trích xuất vào các biểu mẫu chuẩn hóa theo từng nhóm chỉ tiêu kỹ thuật (định tính hóa học, sắc ký lớp mỏng, sắc ký lỏng hiệu năng cao, định lượng, giới hạn tạp chất, tro toàn phần, độ rã, độ hòa tan, nhiễm khuẩn). Toàn bộ số liệu được mã hóa và xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel với các thuật toán thống kê mô tả. Phương pháp thống kê mô tả tỷ lệ phần trăm được lựa chọn vì tính trực quan, chính xác và phù hợp tối đa với mục tiêu đo lường mức độ đáp ứng chỉ tiêu kỹ thuật và nhận diện nguyên nhân kỹ thuật tại hiện trường.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích từ 241 bộ hồ sơ kiểm nghiệm năm 2020 mang lại nhiều phát hiện quan trọng:

Thứ nhất, số lượng mẫu kiểm nghiệm vượt chỉ tiêu kế hoạch nhưng tỷ lệ hoàn thành đầy đủ các chỉ tiêu kỹ thuật ở mức rất thấp. Trung tâm đã tiến hành kiểm nghiệm 241 mẫu vị thuốc cổ truyền và thuốc dược liệu, đạt 120,5% so với chỉ tiêu kế hoạch được giao (200 mẫu). Tuy nhiên, chỉ có 60/241 mẫu được kiểm nghiệm đầy đủ 100% chỉ tiêu theo tiêu chuẩn đăng ký, đạt tỷ lệ 24,9%. Ngược lại, có tới 181/241 mẫu (chiếm 75,1%) không được kiểm nghiệm đủ chỉ tiêu. Trong đó, tỷ lệ không làm đủ chỉ tiêu ở vị thuốc cổ truyền lên đến 83,7% (36/43 mẫu) và ở thuốc dược liệu là 73,2% (145/198 mẫu).

Thứ hai, có sự phân hóa rõ rệt về tỷ lệ hoàn thành chỉ tiêu theo từng cấp tiêu chuẩn chất lượng áp dụng. Trong 14 mẫu áp dụng Dược điển Việt Nam IV, tỷ lệ thực hiện đủ chỉ tiêu đạt 100%. Tuy nhiên, đối với 23 mẫu bắt buộc áp dụng Dược điển Việt Nam V, tỷ lệ làm đủ chỉ tiêu là 0% (100% mẫu không đủ chỉ tiêu). Với 204 mẫu áp dụng Tiêu chuẩn cơ sở (chiếm 84,7% tổng số mẫu), chỉ có 53 mẫu được kiểm nghiệm đủ chỉ tiêu, đạt tỷ lệ 28,8%, còn lại 131 mẫu (71,2%) kiểm nghiệm thiếu chỉ tiêu. Về tính hợp lệ, có 196/241 mẫu (81,3%) được áp dụng đúng tiêu chuẩn và 45/241 mẫu (18,7%) áp dụng chưa đúng tiêu chuẩn quy định.

Thứ ba, sự thiếu hụt trang thiết bị phân tích hiện đại tạo ra nút thắt lớn ở các chỉ tiêu định lượng và an toàn. Ở mảng vị thuốc cổ truyền, 100% các phép thử định lượng (gồm 15 chỉ tiêu định lượng bằng sắc ký lỏng hiệu năng cao HPLC và 3 chỉ tiêu định lượng cất tinh dầu) đều không thể thực hiện (tỷ lệ 0%). Ở thuốc dược liệu, trong 101 chỉ tiêu định lượng, Trung tâm chỉ thực hiện được 22 chỉ tiêu (đạt 21,8%), tập trung ở phương pháp quang phổ UV-VIS (20/20 chỉ tiêu) và hóa học (2/2 chỉ tiêu), trong khi 79/79 chỉ tiêu định lượng bằng HPLC đều không thực hiện được (0%). Ngoài ra, các chỉ tiêu an toàn quan trọng như giới hạn chất bảo quản (66 chỉ tiêu) và độc tính bất thường (20 chỉ tiêu) đều chưa thể triển khai (0%).

Thứ tư, cơ cấu kiểm nghiệm phân bố không đồng đều theo địa bàn và nguồn gốc. Mẫu kiểm nghiệm tập trung cao nhất tại Thành phố Bắc Ninh với 97 mẫu (40,2%), tiếp theo là Thị xã Từ Sơn với 30 mẫu (12,5%), trong khi các huyện như Gia Bình chỉ có 11 mẫu (4,6%) và Lương Tài có 14 mẫu (5,8%). Về nguồn gốc, 100% thuốc dược liệu được sản xuất trong nước; còn vị thuốc cổ truyền có 81,4% sản xuất trong nước, 7,0% nhập khẩu và 11,6% không rõ nguồn gốc. Tỷ lệ kiểm nghiệm so với danh mục trúng thầu của Sở Y tế còn khiêm tốn, chỉ đạt 13,8% đối với vị thuốc cổ truyền (19/138 vị) và 25,7% đối với thuốc dược liệu (19/74 thuốc).

Thảo luận kết quả

Thực trạng phân tích cho thấy các dữ liệu định lượng có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua hệ thống bảng tổng hợp cơ cấu mẫu và biểu đồ cột so sánh tỷ lệ đáp ứng chỉ tiêu giữa các hệ tiêu chuẩn chất lượng. Đặc biệt, biểu đồ tròn phân bổ nguyên nhân kỹ thuật sẽ phản ánh trực quan điểm nghẽn lớn nhất của đơn vị.

Khi đi sâu phân tích nguyên nhân của 311 lượt chỉ tiêu thuốc dược liệu không thể kiểm nghiệm, nghiên cứu chỉ ra rằng thiếu thiết bị và máy móc chiếm tỷ trọng lớn nhất với 62,4% (194 lượt chỉ tiêu), tiếp đến là thiếu chất chuẩn và dược liệu chuẩn đối chiếu chiếm 31,5% (98 lượt chỉ tiêu), và thiếu hóa chất chiếm 6,1% (19 lượt chỉ tiêu). Đối với 54 lượt chỉ tiêu vị thuốc cổ truyền không thực hiện được, nguyên nhân thiếu chất chuẩn chiếm 48,2% (26 lượt), thiếu thiết bị phân tích chiếm 40,7% (22 lượt) và các nguyên nhân kỹ thuật khác chiếm 11,1% (6 lượt).

Thực tế tại Trung tâm Kiểm nghiệm Bắc Ninh, toàn bộ 32 máy móc chuyên dụng phục vụ kiểm nghiệm phần lớn đã qua sử dụng trên 10 năm. Hệ thống sắc ký lỏng hiệu năng cao HPLC bị hỏng hóc và chưa được thay mới đồng bộ, dẫn đến việc đình trệ toàn bộ các chỉ tiêu định tính và định lượng hoạt chất theo chuẩn Dược điển Việt Nam V. So sánh với các trung tâm kiểm nghiệm lân cận trong khu vực phía Bắc cùng giai đoạn, tỷ lệ kiểm nghiệm đủ chỉ tiêu tại Bắc Ninh (24,9%) thấp hơn so với Trung tâm Kiểm nghiệm Hải Dương năm 2018 (60,5%) và Sơn La năm 2018 (93,2%), nhưng tương đồng với những khó khăn mà Trung tâm Kiểm nghiệm Lạng Sơn năm 2019 gặp phải (50,0%). Điều này chứng minh rằng việc nâng cấp tiêu chuẩn quốc gia lên Dược điển Việt Nam V đặt ra thách thức rất lớn đối với các trung tâm kiểm nghiệm tuyến tỉnh khi chưa đạt chuẩn GLP (toàn quốc năm 2020 mới có 16/62 trung tâm đạt GLP).

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực chứng, 4 nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất nhằm nâng cao toàn diện năng lực kiểm nghiệm thuốc cổ truyền và thuốc dược liệu trên địa bàn:

  1. Đầu tư mua sắm và nâng cấp hệ thống trang thiết bị phân tích chuyên sâu: Ủy ban nhân dân tỉnh và Sở Y tế Bắc Ninh cần ưu tiên phân bổ ngân sách trong giai đoạn 2023–2025 để trang bị hệ thống sắc ký lỏng hiệu năng cao HPLC thế hệ mới tích hợp đầu dò đa bước sóng, máy quang phổ hấp thụ nguyên tử AAS và hệ thống chưng cất tinh dầu tiêu chuẩn. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ lệ kiểm nghiệm các chỉ tiêu định lượng hoạt chất và kim loại nặng đạt tối thiểu 75% vào năm 2025.
  2. Xây dựng và duy trì quỹ chất chuẩn, dược liệu chuẩn đối chiếu: Ban Giám đốc Trung tâm Kiểm nghiệm Bắc Ninh cần chủ động thiết lập hợp đồng cung ứng định kỳ hàng năm với Viện Kiểm nghiệm thuốc Trung ương và Viện Dược liệu. Mục tiêu hoàn thành trong vòng 12 tháng kể từ năm 2023 nhằm đảm bảo đầy đủ chất chuẩn đối chiếu cho ít nhất 85% danh mục vị thuốc và thuốc dược liệu thiết yếu trúng thầu trên địa bàn.
  3. Chuẩn hóa quy trình và đào tạo nâng cao trình độ nhân lực: Khoa Đông dược - Dược liệu cùng Phòng Nghiệp vụ cần tổ chức các chương trình đào tạo liên tục hàng quý cho 100% cán bộ kỹ thuật (gồm 8 nhân sự hiện có) về kỹ thuật sắc ký, thẩm định phương pháp phân tích, nhận dạng dược liệu bằng vi phẫu soi bột, hướng tới mục tiêu đưa phòng thí nghiệm đạt chứng nhận Thực hành tốt phòng kiểm nghiệm thuốc GLP trong giai đoạn 2024–2025.
  4. Tối ưu hóa kế hoạch giám sát và mở rộng phạm vi lấy mẫu: Đoàn kiểm tra liên ngành Sở Y tế và Trung tâm Kiểm nghiệm cần tái cấu trúc kế hoạch lấy mẫu hàng năm, tăng cường kiểm tra đột xuất tại các huyện vùng xa và 100% các phòng chẩn trị y học cổ truyền tư nhân, nâng tỷ lệ giám sát danh mục thuốc trúng thầu của tỉnh đạt trên 60% vào cuối năm 2024.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và dữ liệu thực chứng của luận văn mang lại giá trị thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Cán bộ quản lý tại Sở Y tế và lãnh đạo các Trung tâm Kiểm nghiệm tuyến tỉnh: Tài liệu cung cấp phương pháp đánh giá thực trạng năng lực kiểm nghiệm, làm căn cứ khoa học để lập dự toán đầu tư công, nâng cấp hạ tầng kỹ thuật và xây dựng lộ trình đạt chứng nhận GLP và ISO/IEC 17025.
  • Dược sĩ phụ trách kiểm soát chất lượng (QA/QC) tại các doanh nghiệp sản xuất đông dược: Nắm bắt sâu sắc các yêu cầu kỹ thuật của Dược điển Việt Nam V và những lỗi thường gặp trong xây dựng Tiêu chuẩn cơ sở, từ đó hoàn thiện phương pháp kiểm nghiệm nội bộ và nâng cao chất lượng hồ sơ đăng ký thuốc.
  • Giảng viên, nghiên cứu viên và học viên sau đại học ngành Dược học: Sử dụng luận văn làm tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang trong lĩnh vực Tổ chức Quản lý Dược, kỹ thuật thiết kế biểu mẫu thu thập dữ liệu kiểm nghiệm và phân tích thống kê y tế.
  • Hội đồng thuốc và điều trị tại các bệnh viện y học cổ truyền: Hiểu rõ thực trạng kiểm soát chất lượng dược liệu và tỷ lệ mẫu không rõ nguồn gốc trên thị trường địa phương, từ đó siết chặt tiêu chí kỹ thuật trong công tác đấu thầu và kiểm tra nguồn gốc vị thuốc nhập kho điều trị.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao tỷ lệ mẫu kiểm nghiệm đủ chỉ tiêu tại Trung tâm Kiểm nghiệm Bắc Ninh năm 2020 chỉ đạt 24,9%?

Tỷ lệ này bắt nguồn từ sự thiếu hụt trang thiết bị phân tích hiện đại và chất chuẩn đối chiếu. Dù đơn vị kiểm nghiệm được 241 mẫu (đạt 120,5% kế hoạch), nhưng có tới 62,4% chỉ tiêu không làm được do thiết bị hỏng (đặc biệt là máy HPLC) và 31,5% do thiếu chất chuẩn, khiến 181 mẫu bị thiếu các chỉ tiêu định lượng và an toàn.

Tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam V đặt ra thách thức kỹ thuật nào cho đơn vị?

Dược điển Việt Nam V tích hợp 1519 tiêu chuẩn quốc gia với nhiều chuyên luận sửa đổi, đòi hỏi các phương pháp phân tích có độ tin cậy cao như HPLC và quang phổ kế hiện đại. Do chưa được đầu tư thiết bị tương thích, 100% trong số 23 mẫu thuốc áp dụng Dược điển Việt Nam V tại đơn vị đều không thể kiểm nghiệm đủ chỉ tiêu.

Nguyên nhân nào khiến công tác định lượng hoạt chất trong vị thuốc cổ truyền đạt tỷ lệ 0%?

Trong năm 2020, toàn bộ 18 chỉ tiêu định lượng của vị thuốc cổ truyền gồm 15 chỉ tiêu bằng HPLC và 3 chỉ tiêu bằng phương pháp cất tinh dầu đều không thực hiện được. Lý do chính là hệ thống HPLC của đơn vị đã cũ trên 10 năm và bị hỏng, kết hợp với việc thiếu bộ dụng cụ chưng cất tinh dầu chuyên dụng theo đúng chuyên luận.

Thực trạng phân bố nguồn gốc và dạng bào chế của mẫu thuốc kiểm nghiệm như thế nào?

Trong 43 mẫu vị thuốc cổ truyền, có 81,4% sản xuất trong nước, 7,0% nhập khẩu và 11,6% không rõ nguồn gốc. Đối với 198 mẫu thuốc dược liệu, 100% sản xuất trong nước với dạng bào chế chủ yếu là viên nén (chiếm 51,5%) và viên nang (chiếm 33,3%), các dạng siro và cốm chiếm tỷ trọng rất nhỏ.

Giải pháp cốt lõi nào giúp đơn vị nâng cao tỷ lệ kiểm nghiệm và tiến tới đạt chuẩn GLP?

Giải pháp cốt lõi là tỉnh cần cấp kinh phí đầu tư mới hệ thống sắc ký lỏng HPLC và máy quang phổ AAS, đồng thời ký kết thỏa thuận cung ứng chất chuẩn định kỳ với Viện Kiểm nghiệm thuốc Trung ương và đào tạo liên tục cho 8 cán bộ kỹ thuật của Khoa Đông dược nhằm đáp ứng đủ các phép thử phức tạp.

Kết luận

  • Luận văn hoàn thành việc khảo sát toàn diện 241 mẫu vị thuốc cổ truyền và thuốc dược liệu tại Bắc Ninh năm 2020, ghi nhận kết quả thực hiện đạt 120,5% so với chỉ tiêu số lượng được giao nhưng tỷ lệ kiểm nghiệm đủ chỉ tiêu chỉ đạt 24,9%.
  • Nghiên cứu phản ánh sự hụt hơi kỹ thuật khi 100% mẫu áp dụng Dược điển Việt Nam V và 100% chỉ tiêu định lượng bằng phương pháp HPLC không thể thực hiện do thiết bị phân tích xuống cấp và hư hỏng.
  • Phân tích rõ sự mất cân đối trong cơ cấu giám sát khi mẫu tập trung chủ yếu tại khu vực thành thị (Thành phố Bắc Ninh chiếm 40,2%) và các quầy thuốc tư nhân (43,6%), trong khi tỷ lệ kiểm tra theo danh mục thuốc trúng thầu còn thấp (13,8% với vị thuốc cổ truyền).
  • Xác định chính xác hai nguyên nhân rào cản lớn nhất tại phòng kiểm nghiệm là thiếu trang thiết bị máy móc (chiếm 62,4%) và thiếu chất chuẩn đối chiếu (chiếm 31,5%).
  • Đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ về trang thiết bị, chất chuẩn, đào tạo nhân sự và quy trình lấy mẫu, tạo tiền đề vững chắc để Trung tâm đạt chuẩn GLP và ISO/IEC 17025 trong lộ trình 2023–2025.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp bức tranh thực chứng rõ nét về khoảng trống năng lực kiểm nghiệm dược liệu tuyến tỉnh, làm cơ sở khoa học để hoạch định chính sách đầu tư trang thiết bị y tế. Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2023 đến 2025, ngành y tế địa phương cần khẩn trương triển khai mua sắm thiết bị sắc ký hiện đại và hoàn thiện cơ chế cung ứng chất chuẩn. Các nhà quản lý, dược sĩ kiểm nghiệm và đơn vị sản xuất kinh doanh đông dược hãy tham khảo chi tiết toàn văn đề tài để cùng chung tay nâng cao chất lượng thuốc y học cổ truyền, bảo vệ sức khỏe cộng đồng.