ĐẶT VẤN ĐỀ Sức khỏe là vốn quý nhất của con người, cùng với sự phát triển của xã hội thì nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân ngày càng cao. Ngành Dược Việt Nam góp một phần không nhỏ trong công tác phòng và chữa bệnh cho nhân dân. Đặc biệt trong công tác sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và có hiệu quả, vai trò của người thầy thuốc hết sức quan trọng. Việc quyết định dùng loại thuốc gì, dùng như thế nào phụ thuộc hoàn toàn vào người trực tiếp thăm khám và chẩn đoán bệnh.
Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển vượt bậc của ngành Dược, các mặt hàng thuốc khá đa dạng và phong phú cả về hoạt chất, hàm lượng, nồng độ hay dạng dùng. Bởi vậy, các bệnh viện, phòng khám đã có nhiều lựa chọn sử dụng thuốc cho bệnh nhân góp phần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh. Tuy nhiên việc kê đơn thuốc và sử dụng thuốc không hiệu quả, đặc biệt là thuốc kháng sinh, đang là vấn đề phổ biến ở mọi cấp độ chăm sóc. Đây là nguyên nhân tăng chi phí điều trị và tình trạng kháng kháng sinh, gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng trước mắt cũng như lâu dài cho người bệnh.
Trung tâm y tế thị xã Bình Long là bệnh viện công lập Hạng 3 trực thuộc Uỷ ban nhân dân thị xã Bình Long có tổng số 310 giường bệnh và đội ngũ cán bộ y tế chuyên nghiệp. Trung tâm y tế luôn đảm bảo chuyên môn và hạ tầng để thực hiện chức năng khám chữa bệnh tại địa phương. Bên cạnh đó, Trung tâm còn hỗ trợ các công tác đào tạo và nghiên cứu y học. Trung tâm y tế thị xã Bình Long là một trong những đơn vị khám và điều trị đa khoa, trong đó các bệnh đường hô hấp là 1 trong những bệnh chiếm tỷ lệ cao trong mô hình bệnh tật của trung tâm lên đến 14,8%.
Bệnh viêm quản cấp khá phổ biến, chiếm khoảng 2,5% tổng số đơn điều trị ngoại trú. Theo như Quyết định 708/QĐ-BYT của Bộ Y tế trên, hầu hết các trường hợp viêm phế quản cấp thì không cần dùng kháng sinh [1]. Tuy nhiên, kháng sinh lại được sử dụng trong phần lớn các đơn thuốc điều trị viêm phế quản cấp. Vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài “Phân tích thực trạng kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú đối với 1 bệnh đường hô hấp tại Trung tâm y tế thị xã Bình Long, tỉnh Bình Phước năm 2023” với hai mục tiêu sau: 1.
Phân tích các chỉ số kê đơn trong điều trị bệnh đường hô hấp đối với bệnh nhân ngoại trú tại Trung tâm Y tế thị xã Bình Long năm 2023. Phân tích thực trạng kê đơn thuốc kháng sinh điều trị ngoại trú bệnh viêm phế quản cấp cho người lớn tại Trung tâm Y tế thị xã Bình Long năm 2023. Tổng quan về đơn thuốc ngoại trú 1. Khái niệm đơn thuốc Khái niệm về thuốc tại khoản 2, điều 2 trong Luật Dược số 105/2016/QH13 vào năm 2016 được quy định như sau: “Thuốc là chế phẩm có chứa dược chất hoặc dược liệu dùng cho người nhằm mục đích phòng bệnh, chẩn đoán bệnh, chữa bệnh, điều trị bệnh, giảm nhẹ bệnh, điều chỉnh chức năng sinh lý cơ thể người bao gồm thuốc hóa dược, thuốc dược liệu, thuốc cổ truyền, vắc xin và sinh phẩm”.
Vì thế, đơn thuốc được định nghĩa: “Đơn thuốc là tài liệu chỉ định dùng thuốc của bác sĩ cho người bệnh; Là cơ sở pháp lý cho việc chỉ định sử dụng thuốc, bán thuốc và cấp thuốc theo đơn.” Đơn thuốc tập hợp các thuốc bác sĩ kê với mục đích điều trị hay phòng ngừa các triệu chứng bất thường của bệnh nhân. Việc kê đơn phải được người có bằng tốt nghiệp đại học Y khoa và đủ điều kiện khám chữa bệnh theo quy định của pháp luật thực hiện. Ngoài ra, việc kê đơn chỉ được thực hiện sau khi người bệnh đã trải qua quá trình khám bệnh. Kê đơn hợp lý giúp bệnh nhân uống thuốc thích hợp với mục đích điều trị với liều thuốc đáp ứng phù hợp với điều kiện sinh lý, vào khoảng thời gian phù hợp và ít tốn kém chi phí nhất cho người bệnh [2].
Các chỉ số kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã xuất bản Hướng dẫn Kê đơn Tốt (GGP) và Hướng dẫn Kê đơn Tốt dành cho Giáo viên (TGGP). Trong hướng dẫn đã quy định quy trình chuẩn gồm 6 bước cho lí luận trị liệu và kê đơn. Quy trình được diễn giải như sau [3]: Bước 1: Xác định vấn đề bệnh lý của bệnh nhân Bước 2: Xác định mục tiêu điều trị Bước 3: Xác định tính phù hợp của phương pháp điều trị riêng của bạn: Kiểm tra tính hiệu quả và an toàn 3 Bước 4: Bắt đầu điều trị Bước 5: Cung cấp thông tin, hướng dẫn và cảnh báo Bước 6: Theo dõi (và dừng) điều trị Dựa theo hướng dẫn của WHO, Việt Nam đã ban hành văn bản pháp luật hướng dẫn hoạt động kê đơn thuốc. Kê đơn thuốc phải đảm bảo cân bằng các yếu tố hợp lý, an toàn, hiệu quả, kinh tế và tôn trọng sự lựa chọn của bệnh nhân.
Tại điều 4 của Thông tư số 52/2017/TT-BYT ban hành ngày 29/12/2017, Bộ Y tế đã phát hành Quy định về đơn thuốc và việc kê đơn thuốc hóa dược, sinh phẩm trong điều trị ngoại trú. Thông tư đã quy định một số quy tắc kê đơn thuốc như sau [4]: 1. Chỉ được kê đơn thuốc sau khi đã có kết quả khám bệnh, chẩn đoán bệnh. Kê đơn thuốc phù hợp với chẩn đoán bệnh và mức độ bệnh.
Việc kê đơn thuốc phải đạt được mục tiêu an toàn, hợp lý và hiệu quả. Ưu tiên kê đơn thuốc dạng đơn chất hoặc thuốc generic. Việc kê đơn thuốc phải phù hợp với một trong các tài liệu sau đây: ‐ Quyết định số 5631/QĐ-BYT ban hành ngày 31/12/2020 của Bộ Y tế về việc ban hành tài liệu hướng dẫn thực hiện quản lý sử dụng kháng sinh trong bệnh viện [5] ‐ Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị của cơ sở khám, chữa bệnh xây dựng theo quy định tại Điều 6 Thông tư số 21/2013/TT-BYT ngày 08 tháng 8 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định về tổ chức và hoạt động của Hội đồng Thuốc và Điều trị trong bệnh viện trong trường hợp chưa có hướng dẫn chẩn đoán và điều trị của Bộ Y tế [6] ‐ Hướng dẫn điều trị và chăm sóc HIV/AIDS do Bộ Y tế ban hành theo Quyết định số 5968/QĐ-BYT [7]; ‐ Tờ hướng dẫn sử dụng thuốc đi kèm với thuốc đã được phép lưu hành. ‐ Dược thư quốc gia của Việt Nam [8].
Số lượng thuốc được kê đơn thực hiện theo Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị được quy định tại Điểm a Khoản 4 Điều này hoặc đủ sử dụng nhưng tối đa không quá 30 (ba mươi) ngày, trừ trường hợp quy định tại các điều 7, 8 và 9 Thông tư 52/2017/TT-BYT [4]. Đối với người bệnh phải khám từ 3 chuyên khoa trở lên trong ngày thì người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc người được người đứng đầu cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ủy quyền (trưởng khoa khám bệnh, trưởng khoa lâm sàng) hoặc người phụ trách chuyên môn của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh sau khi xem xét kết quả khám bệnh của các chuyên khoa trực tiếp kê đơn hoặc phân công bác sĩ có chuyên khoa phù hợp để kê đơn thuốc cho người bệnh. Bác sĩ, y sĩ tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tuyến 4 được khám bệnh, chữa bệnh đa khoa và kê đơn thuốc điều trị của tất cả chuyên khoa thuộc danh mục kỹ thuật ở tuyến 4 (danh mục kỹ thuật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt). Trường hợp cấp cứu người bệnh, bác sĩ, y sĩ quy định tại các khoản 1, 2 Điều 2 trong Thông tư số 52/2017/TT-BYT kê đơn thuốc để xử trí cấp cứu, phù hợp với tình trạng của người bệnh [4].
Không được kê vào đơn thuốc các nội dung quy định tại Khoản 15 Điều 6 Luật dược, cụ thể: - Các thuốc, chất không nhằm mục đích phòng bệnh, chữa bệnh; - Các thuốc chưa được phép lưu hành hợp pháp tại Việt Nam; - Thực phẩm chức năng; - Mỹ phẩm. Các yêu cầu chung đối với nội dung kê đơn thuốc thì được quy định tại Thông tư 52/2017/TT-BYT [4] và thông tư 18/2018/TT-BYT bổ sung và sửa đổi cho thông tư 52/2017/TT-BYT [9]. Tổ chức Y tế thế giới – WHO 1993 đã đưa ra các chỉ số kê đơn sau [10]: 5 Bảng 1. Các chỉ số kê đơn của WHO Chỉ số Ý nghĩa Để đo lường mức độ tổng thể của sự việc sử dụng loại Tỷ lệ phần trăm đơn kê thuốc quan trọng, nhưng thường bị lạm dụng và tốn kém có kháng sinh trong chi phí điều trị bằng thuốc Để đo lường mức độ tổng thể của việc sử dụng loại thuốc Tỷ lệ phần trăm đơn kê quan trọng, nhưng thường bị lạm dụng và tốn kém trong có TPCN chi phí điều trị bằng thuốc Số thuốc trung bình Để đo mức độ đơn kê nhiều thuốc trong một đơn Tỷ lệ phần trăm của các thuốc được kê theo tên Để đo lường xu hướng kê đơn theo tên generic generic Tỷ lệ phần trăm của các thuốc được kê thuộc Để đo mức độ thực hành phù hợp với chính sách quốc danh mục thuốc thiết gia, bằng việc chỉ ra việc thực hiện kê đơn từ danh sách yếu hoặc danh mục thuốc chủ yếu đối với từng loại hình cơ sở khảo sát.
thuốc chủ yếu Ngoài ra theo thông tư 21/2013/TT-BYT ban hành ngày 08 tháng 8 năm 2013 quy định về tổ chức và hoạt động của hội đồng thuốc và điều trị trong bệnh viện cũng đưa ra các chỉ số sử dụng thuốc WHO/INRUD [6] cho cơ sở y tế ban đầu, bao gồm: a) Số thuốc kê trung bình trong một đơn; b) Tỷ lệ phần trăm thuốc được kê tên generic hoặc tên chung quốc tế (INN); c) Tỷ lệ phần trăm đơn kê có kháng sinh; d) Tỷ lệ phần trăm đơn kê có thuốc tiêm; đ) Tỷ lệ phần trăm đơn kê có vitamin; 6 e) Tỷ lệ phần trăm thuốc được kê đơn có trong danh mục thuốc thiết yếu do Bộ Y tế ban hành.2: Giá trị khuyến cáo kê đơn của WHO [10] Chỉ số Giá trị tiêu chẩn Số thuốc trung bình/đơn 1,6 - 1,8 Tỉ lệ kê đơn kháng sinh 20,0 - 26,8% Tỉ lệ kê đơn thuốc tiêm 13,4 - 24,1% Tỉ lệ thuốc được kê tên chung quốc tế 100% Tỉ lệ thuốc được kê nằm trong danh mục thuốc thiết yếu 100% 1. Tổng quan về một số bệnh đường hô hấp 1.