Phân tích thực trạng hoạt động marketing tại Công ty Cổ phần Nhựa Sài Gòn - Khóa luận tốt nghiệp

Khóa luận phân tích thực trạng hoạt động marketing tại công ty cổ phần nhựa Sài Gòn, cung cấp cái nhìn sâu sắc về chiến lược và hiệu quả.

Trường đại học

Đại học Quốc tế Sài Gòn

Chuyên ngành

Quản trị kinh doanh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận thực tập tốt nghiệp

2015

97
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. Khái niệm cơ bản

1.2. Vai trò của Marketing

1.3. Tầm quan trọng của hoạt động Marketing

1.4. Chính sách Marketing – Mix

1.4.1. Chính sách về sản phẩm (Product)

1.4.1.1. Định nghĩa về sản phẩm trong Marketing
1.4.1.2. Vai trò, vị trí của chiến lược sản phẩm
1.4.1.3. Chu kỳ đời sống sản phẩm

1.4.2. Chính sách về giá (Price)

1.4.3. Vai trò của phân phối

1.4.4. Xúc tiến thương mại (Promotion)

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MARKETING TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA SÀI GÒN

2.1. Giới thiệu chung về công ty

2.2. Lịch sử hình thành và phát triển

2.3. Cơ cấu tổ chức

2.4. Sản phẩm, công nghệ, thị trường và đối thủ cạnh tranh

2.5. Thị trường

2.6. Đối thủ cạnh tranh

2.7. Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong 3 năm gần nhất

2.8. Thực trạng hoạt động Marketing tại Công ty CP Nhựa Sài Gòn

2.8.1. Thực trạng chính sách về sản phẩm

2.8.1.1. Quyết định về nhãn hiệu sản phẩm
2.8.1.2. Quyết định về chất lượng sản phẩm
2.8.1.3. Quyết định về đặc tính sản phẩm
2.8.1.4. Dịch vụ hỗ trợ sản phẩm
2.8.1.5. Thiết kế sản phẩm mới

2.8.2. Thực trạng chính sách về giá

2.8.3. Thực trạng chính sách về phân phối

2.8.3.1. Mạng lưới kênh phân phối
2.8.3.2. Quản lý hệ thống kênh phân phối

2.8.4. Thực trạng chính sách về xúc tiến

2.8.5. Đánh giá thực trạng hoạt động Marketing tại Công ty cổ phần nhựa Sài Gòn

2.9. Chiến lược sản phẩm

2.10. Chiến lược giá

2.11. Chiến lược phân phối

2.12. Chiến lược xúc tiến

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG MARKETING TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA SÀI GÒN

3.1. Nhóm giải pháp về sản phẩm

3.2. Nhóm giải pháp về giá

3.3. Nhóm giải pháp về phân phối

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về hoạt động marketing tại Nhựa Sài Gòn

Công ty Cổ phần Nhựa Sài Gòn (SAIGON PLASTIC) là một trong những doanh nghiệp hàng đầu trong ngành sản xuất nhựa tại Việt Nam. Hoạt động marketing tại công ty đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng thương hiệu và phát triển thị trường. Để hiểu rõ hơn về hoạt động marketing của công ty, cần phân tích các yếu tố như chiến lược sản phẩm, giá cả, phân phối và xúc tiến thương mại. Những yếu tố này không chỉ giúp công ty duy trì vị thế cạnh tranh mà còn tạo ra giá trị cho khách hàng.

1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của Nhựa Sài Gòn

Nhựa Sài Gòn được thành lập vào năm 1975, trải qua nhiều giai đoạn phát triển, công ty đã không ngừng mở rộng quy mô sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm. Hiện nay, công ty đã có mặt trên thị trường quốc tế và trở thành một trong những thương hiệu uy tín trong ngành nhựa.

1.2. Cơ cấu tổ chức và nguồn lực của công ty

Công ty có một cơ cấu tổ chức rõ ràng với các phòng ban chức năng như phòng kinh doanh, phòng sản xuất, và phòng marketing. Nguồn lực con người được đào tạo bài bản, giúp công ty thực hiện các chiến lược marketing hiệu quả.

II. Thách thức trong hoạt động marketing tại Nhựa Sài Gòn

Mặc dù có nhiều thành công, Nhựa Sài Gòn cũng đối mặt với nhiều thách thức trong hoạt động marketing. Cạnh tranh từ các đối thủ trong và ngoài nước ngày càng gia tăng, yêu cầu công ty phải liên tục đổi mới và cải tiến chiến lược marketing. Bên cạnh đó, sự thay đổi nhanh chóng của thị trường và nhu cầu của khách hàng cũng là một thách thức lớn.

2.1. Cạnh tranh từ các đối thủ trong ngành nhựa

Thị trường nhựa hiện nay có nhiều đối thủ cạnh tranh mạnh, từ các công ty trong nước đến các tập đoàn quốc tế. Điều này đòi hỏi Nhựa Sài Gòn phải có những chiến lược marketing độc đáo để thu hút khách hàng.

2.2. Xu hướng tiêu dùng và thay đổi nhu cầu khách hàng

Khách hàng ngày càng có yêu cầu cao về chất lượng sản phẩm và dịch vụ. Nhựa Sài Gòn cần nắm bắt xu hướng này để điều chỉnh sản phẩm và dịch vụ của mình cho phù hợp.

III. Phương pháp marketing hiệu quả tại Nhựa Sài Gòn

Để vượt qua thách thức, Nhựa Sài Gòn đã áp dụng nhiều phương pháp marketing hiệu quả. Công ty chú trọng vào việc phát triển sản phẩm mới, cải tiến chất lượng và mở rộng kênh phân phối. Đồng thời, các hoạt động xúc tiến thương mại cũng được đẩy mạnh để tăng cường nhận diện thương hiệu.

3.1. Chiến lược phát triển sản phẩm mới

Nhựa Sài Gòn thường xuyên nghiên cứu và phát triển các sản phẩm mới nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường. Việc này không chỉ giúp công ty giữ vững thị phần mà còn tạo ra sự khác biệt so với đối thủ.

3.2. Cải tiến chất lượng sản phẩm và dịch vụ

Công ty luôn chú trọng đến việc nâng cao chất lượng sản phẩm thông qua việc áp dụng công nghệ sản xuất hiện đại và quy trình kiểm soát chất lượng nghiêm ngặt.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu tại Nhựa Sài Gòn

Kết quả từ các hoạt động marketing đã mang lại nhiều thành công cho Nhựa Sài Gòn. Doanh thu và thị phần của công ty đã tăng trưởng ổn định trong những năm qua. Các chiến lược marketing đã giúp công ty xây dựng được hình ảnh thương hiệu mạnh mẽ và tạo lòng tin với khách hàng.

4.1. Kết quả doanh thu và thị phần

Trong ba năm qua, doanh thu của Nhựa Sài Gòn đã tăng trưởng trung bình 15% mỗi năm, cho thấy hiệu quả của các chiến lược marketing đã được triển khai.

4.2. Đánh giá sự hài lòng của khách hàng

Các khảo sát cho thấy mức độ hài lòng của khách hàng đối với sản phẩm và dịch vụ của Nhựa Sài Gòn đạt trên 85%, điều này chứng tỏ công ty đã đáp ứng tốt nhu cầu của thị trường.

V. Kết luận và tương lai của hoạt động marketing tại Nhựa Sài Gòn

Hoạt động marketing tại Nhựa Sài Gòn đã có những bước tiến đáng kể, nhưng vẫn cần tiếp tục cải thiện để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường. Công ty cần chú trọng vào việc phát triển bền vững và áp dụng công nghệ mới trong marketing để duy trì vị thế cạnh tranh.

5.1. Định hướng phát triển trong tương lai

Nhựa Sài Gòn sẽ tiếp tục đầu tư vào nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, đồng thời mở rộng thị trường xuất khẩu để gia tăng doanh thu.

5.2. Tăng cường ứng dụng công nghệ trong marketing

Công ty sẽ áp dụng các công nghệ mới trong marketing như marketing số và phân tích dữ liệu để tối ưu hóa các chiến lược marketing của mình.

19/08/2025
Khóa luận tốt nghiệp ngành quản trị kinh doanh phân tích thực trạng hoạt động marketing tại công ty cổ phần nhựa sài gòn

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Khái niệm cơ bản Marketing là danh động từ của “Market” (thị trường) với nghĩa là làm thị trường. Vì vậy trong lĩnh vực kinh doanh “Marketing là tập hợp các hoạt động của doanh nghiệp nhằm thỏa mãn nhu cầu của thị trường mục tiêu thông qua quá trình trao đổi giúp doanh nghiệp đạt mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận”. “Marketing là quá trình ảnh hưởng đến các trao đổi tự nguyện giữa doanh nghiệp với khách hàng và các đối tác nhằm đạt mục tiêu kinh doanh”.

Không chỉ dừng lại ở đó Marketing còn là một thuật ngữ, do đó Marketing không có tên gọi tương đồng trong tiếng Việt. Một số sách giáo trình Marketing Việt Nam cho rằng Marketing là "tiếp thị". Tuy nhiên, đó không phải là tên gọi tương đồng chính xác vì "tiếp thị" không bao hàm hết được ý nghĩa của Marketing. Có rất nhiều khái niệm, định nghĩa về Marketing, tuy nhiên định nghĩa của Philip Kotler (theo Principles of Marketing) là định nghĩa mà được nhiều nhà phê bình cho rằng chính xác nhất.

"Marketing là quá trình tạo dựng các giá trị từ khách hàng và mối quan hệ thân thiết với khách hàng nhằm mục đích thu về giá trị lợi ích cho doanh nghiệp, tổ chức từ những giá trị đã được tạo ra".1: Philip Kotler Nguồn Biên soạn Đỗ Hữu Vinh, Marketing xuất nhập khẩu (Marketing quốc tế), NXB tài chính 2006, trang 178. ❖ Ngoài ra có rất nhiều khái niệm, định nghĩa về Marketing khác nhau “Marketing là quá trình lên kế hoạch và tạo dựng mô hình sản phẩm (concept), hệ thống phân phối, giá cả và các chiến dịch promotion nhằm tạo ra những sản phẩm Hình 1.2: Hiệp hội Marketing hoặc dịch vụ (exchanges/marketing Hoa Kỳ offerings) có khả năng thỏa mãn nhu câu Nguồn Biên soạn Đỗ Hữu Vinh, các cá nhân hoặc tổ chức nhất định”. (Theo Marketing xuất nhập khẩu, NXB tài Thái Dương Bảo Lộc 3 Khóa luận tốt nghiệp Thạc sĩ: Nguyễn Văn Mỹ Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ) chính 2006, trang 178. ❖ Đối với người mua: Marketing có nghĩa là mua sắm sản phẩm, dịch vụ… cho người tiêu dùng ❖ Đối với người sản xuất: Marketing có nghĩa là việc bán ra những sản phẩm của họ ❖ Đối với những người lám công tác trung gian trong quá trình tiêu thụ hàng hóa: Marketing có nghĩa là việc bảo quản sản phẩm, biến đổi sản phẩm thành một hình thức được người tiêu dùng chấp nhận, vận chuyển đến điểm bán lẻ và khuyến mãi, khuếch trương sản phẩm.

Tất cả các hoạt động này là một phần của Marketing.  Tóm lại khi nhắc đến khái niệm, định nghĩa Marketing, chúng ta hiểu rằng đây là một thuật ngữ chỉ các hoạt động trong các tổ chức (cả tổ chức kinh doanh và tổ chức phi lợi nhuận) bao gồm việc tạo dựng giá trị từ khách hàng, xây dựng mối quan hệ với khách hàng, xây dựng mô hình sản phẩm, giá cả, hệ thống phân phối và chiến dịch promotion. với mục đích nhằm tạo ra sản phẩm, dịch vụ thỏa mãn nhu cầu của một hoặc nhiều nhóm khách hàng nhất định và thu về giá trị lợi ích từ những giá trị đã được tạo ra. Vai trò của Marketing ❖ Đối với nền kinh tế:Làm giảm cách biệt khoảng cách giữa người sản xuất và người tiêu dùng, cách biệt về không gian, khác biệt về thời gian, về giá trị, khác biệt nhau về quyền sở hữu, cách biệt nhau về chủng loại số lượng, cách biệt nhau về thông tin.

❖ Vai trò đối với doanh nghiệp: Marketing giúp doanh nghiệp đánh giá tiềm năng, định hướng hoạt động cho từng sản phẩm dịch vụ, cung cấp cơ sở thông tin để hoạch định chiến lược cho toàn bộ doanh nghiệp. ❖ Vai trò đối với xã hội: Cungcấp một mức sống đối với xã hội. Khi chúng ta xem xét toàn bộ hoạt động marketing của các doanh nghiệp đặc biệt là khối các hoạt động vận tải và phân phối ta thấy rằng hiệu quả của hệ thống đưa hàng hóa từ người sản xuất đến người tiêu dùng có thể ảnh hưởng lớn đến vấn đề phúc lợi xã hội. Thái Dương Bảo Lộc 4 Khóa luận tốt nghiệp Thạc sĩ: Nguyễn Văn Mỹ Muốn thành công trong kinh doanh, các doanh nghiệp và các nhà kinh doanh cần hiểu biết cặn kẽ về thị trường, về những nhu cầu và mong muốn của khách hàng, về nghệ thuật ứng xử trong kinh doanh.

Marketing là một bộ môn khoa học nghiên cứu về các hoạt động kinh doanh có liên quan trực tiếp đến dòng chuyển vận của hàng hoá - dịch vụ từ nơi sản xuất tới người tiêu dùng, nhằm tìm ra các biện pháp hữu hiệu để bảo vệ, duy trì và phát triển thị trường.Marketing còn áp dụng trong nhiều lĩnh vực xã hội. Tầm quan trọng của hoạt động Marketing Ngày nay, hoạt động marketing rất quan trọng đối với sự phát triển của công ty.Marketing giúp đánh giá tiềm năng, định hướng cho từng sản phẩm, cung cấp cơ sở thông tin để hoạch định chiến lược hoạt động cho toàn bộ công ty.Marketing kích thích việc mua hàng của người tiêu dùng, có tác dụng lớn khi công ty đưa một sản phẩm mới ra thị trường và giúp sản phẩm của công ty trở nên nổi bật hơn. Bên cạnh đó, hoạt động markeitng đã dựng lên thêm những rào cản dưới dạng giấy phép sản xuất, sự cần thiết phải có những chi phí cho việc kích thích, sự cần thiết phải thiết lập quan hệ hợp tác với những nhà cung ứng hay đại lý đã nổi tiếng. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp phải hoạt động trong một môi trường cạnh tranh quyết liệt và có những thay đổi nhanh chóng về khoa học – công nghệ, những đạo luật mới, những chính sách quản lý thương mại mới và sự trung thành của khách hàng ngày càng giảm sút.

“Các công ty đang phải chạy đua với nhau trên một tuyến đường với những biển báo và luật lệ luôn thay đổi, không có tuyến đích, không có chiến thắng vĩnh cửu. Họ buộc phải không ngừng chạy đua và hy vọng là mình đang chạy theo đúng hướng mà công chúng mong muốn”. Do đó, hoạt động Marketing là phần không thể thiếu góp phần mang đến thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Hay nói cách khác, Marketing là hoạt động bôi trơn doanh nghiệp.

Chính sách Marketing – Mix Marketing – mix (Marketing hỗn hợp) là sự phối hợp sắp xếp hay bố trí và điều hành các thành phần của Marketing sao cho phù hợp với hoàn cảnh kinh doanh thực tế của mỗi doanh nghiệp nhằm củng cố vững chắc vị trí mục tiêu nhằm đạt được các kế hoạch đã hoạch định của doanh nghiệp trên thương trường. Thái Dương Bảo Lộc 5 Khóa luận tốt nghiệp Thạc sĩ: Nguyễn Văn Mỹ Trong Marketing mix có hàng chục công cụ khác nhau, Mc Carthy đã đưa ra cách phân loại theo 4 yếu tố gọi tắt là 4P gồm: giá (Price), sản phẩm (Product), nơi phân phối (Place) và xúc tiến thương mại (Promotion) 1. Chính sách về sản phẩm (Product) 1. Định nghĩa về sản phẩm trong Marketing Sản phẩm là tất cả những gì có thể đưa ra thị trường để tạo ra sự chú ý, mua sắm, sử dụng hay tiêu thụ nhằm thoả mãn một chu cầu hay mong muốn Sản phẩm có thể là những vật thể hữu hình, những dịch vụ mang tính vô hình, những địa điểm (cho thuê địa điểm, thuê mặt bằng sản xuất kinh doanh), phát minh, sáng chế.Khi tạo ra sản phẩm, các doanh nghiệp cần nhận thức đầy đủ về 3 mức độ của nó nhằm thoả mãn những mong đợi của người tiêu dùng.

Vai trò, vị trí của chiến lược sản phẩm Chiến lược sản phẩm có vị trí cực kỳ quan trọng, là nền tảng, xương sống của 4P, giúp doanh nghiệp xác định phương hướng đầu tư, thiết kế sản phẩm phù hợp thị hiếu, hạn chế rủi ro, thất bại, chỉ đạo thực hiện hiệu quả các P còn lại trong marketing hỗn hợp.1: Ba mức độ của sản phẩm Nguồn: Nhóm biên soạn: ThS Đinh Tiên Minh,ThS Quách Thị Bửu Châu,ThS Nguyễn Văn Trưng và ThS Đào Hoài Nam, Sách Marketing căn bản , NXB Lao Động (2014), trang106. Thái Dương Bảo Lộc 6 Khóa luận tốt nghiệp Thạc sĩ: Nguyễn Văn Mỹ 1. Chu kỳ đời sống sản phẩm Chu kỳ đời sống (vòng đời) sản phẩm (trãi qua 4 giai đoạn chủ yếu). Doanh số Doanh số và Lợi lợi nhuận nhuận Chu kỳ Triển khai Giới Phát Trưởng Suy thiệu triển thành tàn Sơ đồ 1.2:Chu kỳ đời sống của sản phẩm Nguồn: Biên soạn Đỗ Hữu Vinh, Marketing xuất nhập khẩu (Marketing quốc tế), NXB tài chính (2006), trang 197.

Giai đoạn 1: Ra đời, Bắt đầu xuất hiện sản phẩm mới trên thị trường, mức tiêu thụ sản phẩm còn thấp, trong khi đó chi phí sản xuất kinh doanh lớn, do vậy lợi nhận có giá trị âm. Giai đoạn 2: Phát triển, sản phẩm/dịch vụ có mức tiêu thụ tăng nhanh, sản xuất kinh doanh bắt đầu có lãi. Giai đoạn 3: Trưởng thành, sản lượng tiêu thụ đạt tối đa, lợi nhuận cũng đạt tối đa và bắt đầu giảm dần. Giai đoạn 4: Suy thoái, mức tiêu thụ giảm nhanh, lợi nhuận giảm.

Thái Dương Bảo Lộc 7 Khóa luận tốt nghiệp Thạc sĩ: Nguyễn Văn Mỹ Bảng 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ