Luận văn: Phân tích hoạt động kinh doanh nhà thuốc Bích Thảo Tuyên Quang 2019 - Nguyễn Bích Thảo

Phân tích chi tiết hoạt động kinh doanh nhà thuốc Bích Thảo Tuyên Quang năm 2019. Đánh giá hiệu quả, doanh thu và các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp I

2020

87
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nhà thuốc Bích Thảo Tuyên Quang năm 2019

Nhà thuốc Bích Thảo là cơ sở kinh doanh dược phẩm tư nhân hoạt động tại Phường Đội Cấn, Thành phố Tuyên Quang. Nhà thuốc thuộc mô hình nhà thuốc đạt chuẩn GPP, cung cấp đa dạng các loại thuốc chữa bệnh, thực phẩm chức năng và mỹ phẩm cho người dân địa phương. Năm 2019 đánh dấu giai đoạn phát triển ổn định của nhà thuốc với doanh thu đạt kết quả khả quan. Hoạt động kinh doanh diễn ra xuyên suốt 12 tháng, phục vụ nhu cầu chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn dược đảm bảo tư vấn và bán thuốc đúng quy định. Nhà thuốc hoạt động theo giấy phép hành nghề dược tư nhân, tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của Bộ Y tế về kinh doanh dược phẩm. Vị trí thuận lợi tại trung tâm phường giúp nhà thuốc tiếp cận được lượng khách hàng ổn định.

1.1. Vị trí địa lý và thị trường hoạt động

Phường Đội Cấn nằm tại trung tâm thành phố Tuyên Quang, nơi tập trung đông dân cư và có hạ tầng giao thông thuận lợi. Thị trường dược phẩm tại đây có tiềm năng phát triển do nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng tăng của người dân. Nhà thuốc Bích Thảo tận dụng vị trí chiến lược để phục vụ đa dạng đối tượng khách hàng từ người lao động, cán bộ công chức đến người cao tuổi. Sự cạnh tranh giữa các nhà thuốc trên địa bàn đòi hỏi mỗi cơ sở phải nâng cao chất lượng dịch vụ và tối ưu hóa hoạt động kinh doanh để duy trì thị phần.

1.2. Đặc điểm hoạt động kinh doanh dược phẩm

Kinh doanh dược phẩm là ngành nghề đặc thù, chịu sự quản lý chặt chẽ của pháp luật về y dược. Nhà thuốc phải đáp ứng các điều kiện về nhân sự, cơ sở vật chất, bảo quản thuốc theo tiêu chuẩn GPP. Sản phẩm kinh doanh bao gồm thuốc kê đơn, thuốc không kê đơn, thực phẩm chức năng và các sản phẩm chăm sóc sức khỏe khác. Mỗi nhóm sản phẩm có biên lợi nhuận và quy định bán hàng riêng biệt. Hoạt động tư vấn sử dụng thuốc an toàn, hiệu quả là yếu tố then chốt tạo nên uy tín và lợi thế cạnh tranh bền vững cho nhà thuốc.

II. Phân tích kết quả kinh doanh nhà thuốc Bích Thảo năm 2019

Kết quả kinh doanh năm 2019 của Nhà thuốc Bích Thảo cho thấy tổng tỷ suất lợi nhuận trên doanh số đạt 14,77%. Đây là mức sinh lời đáng khích lệ trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt của ngành dược phẩm bán lẻ. Các tháng có giá trị lợi nhuận thuần cao nhất gồm tháng 1, tháng 4, tháng 5, tháng 6, tháng 7, tháng 11 và tháng 12. Đáng chú ý, giai đoạn tháng 5 đến tháng 7 thường được đánh giá là thời kỳ tăng trưởng thấp của nhiều ngành nghề. Tuy nhiên, nhà thuốc đã dự đoán được xu hướng thị trường và điều chỉnh chiến lược kinh doanh phù hợp. Các mặt hàng thực phẩm chức năng và mỹ phẩm đóng góp doanh số bán hàng tốt trong mùa hè. Nhóm bệnh lý tim mạch, rối loạn chuyển hóa, đau nửa đầu cũng có nhu cầu tăng cao. Chi phí cố định trung bình khoảng 1,8 triệu đồng mỗi tháng, phản ánh cơ cấu vận hành gọn nhẹ. Chi phí biến đổi được kiểm soát hợp lý, đảm bảo biên lợi nhuận ổn định qua các tháng.

2.1. Cơ cấu doanh số và tỷ suất lợi nhuận theo tháng

Phân tích doanh số bán hàng theo từng tháng năm 2019 cho thấy sự biến động rõ rệt giữa các giai đoạn. Tháng 1 đạt doanh số cao với hơn 301 triệu đồng, tỷ suất lợi nhuận 14,99%. Tháng 6 ghi nhận doanh số 238 triệu đồng với tỷ suất lợi nhuận 15,77%, cao hơn mức trung bình năm. Tỷ suất lợi nhuận/doanh số dao động trong khoảng từ 14% đến gần 16%, phản ánh khả năng kiểm soát chi phí tốt. Các tháng hè mặc dù doanh số có giảm nhưng tỷ suất lợi nhuận lại cải thiện nhờ cơ cấu sản phẩm bán chạy có biên lợi nhuận cao.

2.2. Phân tích nhóm sản phẩm có tỷ suất lợi nhuận cao

Thực phẩm chức năng và mỹ phẩm là hai nhóm sản phẩm có tỷ suất lợi nhuận cao nhất tại nhà thuốc. Nhóm thực phẩm chức năng bao gồm các sản phẩm bổ sung vitamin, khoáng chất, sản phẩm hỗ trợ sức khỏe được người tiêu dùng ưa chuộng. Mỹ phẩm dược phẩm cũng có doanh số bán ổn định nhờ xu hướng chăm sóc sắc đẹp tăng trưởng. Nhóm thuốc điều trị bệnh tim mạch, rối loạn chuyển hóa lipid, glucose, rối loạn tuần hoàn não có nhu cầu cao vào mùa hè. Việc đa dạng hóa danh mục sản phẩm giúp nhà thuốc tối ưu hóa lợi nhuận và giảm rủi ro kinh doanh.

III. Phương pháp phân tích và đánh giá hiệu quả kinh doanh

Đề tài áp dụng phương pháp mô tả hồi cứu để phân tích hoạt động kinh doanh của Nhà thuốc Bích Thảo. Dữ liệu bán hàng được thu thập trong giai đoạn từ ngày 1 tháng 1 đến ngày 31 tháng 12 năm 2019. Phương pháp so sánh được sử dụng phổ biến để đối chiếu các chỉ tiêu kinh tế giữa các kỳ trong năm. Công thức tính tỷ lệ phần trăm giúp đánh giá mức thay đổi giữa các chỉ tiêu thực hiện. Phương pháp tỷ trọng phân tích chi tiết các yếu tố cấu thành nên chỉ tiêu tổng thể. Nhập liệu và xử lý số liệu thực hiện bằng phần mềm Microsoft Excel 2013. Các biến số nghiên cứu bao gồm doanh số bán hàng, vốn kinh doanh, chi phí cố định, chi phí biến đổi và lợi nhuận thuần. Kết quả phân tích được trình bày dưới dạng bảng biểu và biểu đồ trực quan. Phương pháp này đảm bảo tính chính xác và khách quan trong đánh giá hiệu quả kinh doanh của nhà thuốc.

3.1. Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu

Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ báo cáo bán hàng năm 2019 của Nhà thuốc Bích Thảo. Phương pháp mô tả hồi cứu giúp khai thác toàn bộ thông tin về doanh số, chi phí và lợi nhuận trong suốt năm. Các văn bản quy phạm pháp luật của Bộ Y tế như Nghị định 89/2012, Thông tư 46/2011, Thông tư 45/2013 được tham chiếu làm cơ sở đánh giá. Phần mềm Microsoft Excel 2013 được sử dụng để nhập liệu, xử lý và phân tích số liệu. Quy trình nghiên cứu đảm bảo tính hệ thống từ thu thập, tổng hợp đến đánh giá cuối cùng.

3.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh

Hệ thống chỉ tiêu đánh giá bao gồm doanh số bán hàng, vốn kinh doanh, chi phí cố định, chi phí biến đổi, lợi nhuận thuần và tỷ suất lợi nhuận trên doanh số. Chỉ tiêu thực hiện được so sánh qua các tháng trong năm để đánh giá xu hướng tăng trưởng. Tỷ suất lợi nhuận/doanh số là chỉ tiêu quan trọng phản ánh hiệu quả sử dụng vốn. Công thức tính tỷ suất lợi nhuận: Lợi nhuận thuần chia cho doanh số nhân 100%. Phương pháp tỷ trọng giúp xác định đóng góp của từng nhóm sản phẩm vào tổng doanh số và lợi nhuận.

IV. Kết luận và ứng dụng thực tiễn cho nhà thuốc Bích Thảo

Kết quả nghiên cứu khẳng định Nhà thuốc Bích Thảo đạt hiệu quả kinh doanh tốt trong năm 2019 với tỷ suất lợi nhuận 14,77%. Tổng lợi nhuận thuần đạt được phản ánh năng lực quản lý và vận hành hiệu quả của nhà thuốc. Cơ cấu sản phẩm đa dạng giúp nhà thuốc duy trì doanh số ổn định qua các tháng. Việc dự đoán xu hướng thị trường và điều chỉnh chiến lược kinh doanh là yếu tố then chốt tạo nên thành công. Nhà thuốc đã tận dụng tốt mùa hè để đẩy mạnh bán thực phẩm chức năng và mỹ phẩm. Chi phí vận hành được kiểm soát chặt chẽ, đảm bảo biên lợi nhuận tối ưu. Nghiên cứu cũng chỉ ra tiềm năng phát triển thêm dịch vụ tư vấn sức khỏe chuyên sâu. Bài học kinh nghiệm từ nhà thuốc Bích Thảo có thể áp dụng cho các nhà thuốc cộng đồng khác tại khu vực miền núi phía Bắc. Hướng phát triển bền vững cần tập trung nâng cao chất lượng dịch vụ và mở rộng danh mục sản phẩm.

4.1. Bài học kinh nghiệm từ kết quả kinh doanh

Nhà thuốc Bích Thảo rút ra nhiều bài học quý giá từ hoạt động kinh doanh năm 2019. Thứ nhất, việc đa dạng hóa sản phẩm giúp giảm rủi ro và tăng doanh số. Thứ hai, dự đoán xu hướng thị trường theo mùa giúp điều chỉnh chiến lược nhập hàng hợp lý. Thứ ba, kiểm soát chi phí cố định và biến đổi là yếu tố quyết định biên lợi nhuận. Thứ tư, đội ngũ nhân viên có trình độ chuyên môn tạo lợi thế cạnh tranh vượt trội. Thứ năm, vị trí địa lý thuận lợi kết hợp với dịch vụ tư vấn tốt giúp duy trì lượng khách hàng trung thành.

4.2. Ứng dụng thực tiễn và hướng phát triển

Kết quả nghiên cứu được ứng dụng thực tiễn trong việc tối ưu hóa hoạt động kinh doanh của Nhà thuốc Bích Thảo. Các khuyến nghị bao gồm tăng cường nhập khẩu nhóm sản phẩm có tỷ suất lợi nhuận cao như thực phẩm chức năng. Đầu tư nâng cấp hệ thống quản lý bằng công nghệ thông tin để theo dõi doanh số thời gian thực. Phát triển dịch vụ tư vấn dược lâm sàng chuyên sâu nhằm tăng giá trị gia tăng cho khách hàng. Mở rộng kênh bán hàng trực tuyến để tiếp cận đối tượng khách hàng trẻ. Xây dựng chương trình khách hàng thân thiết nhằm gia tăng tỷ lệ quay lại mua hàng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

28/05/2026
Nguyễn bích thảo phân tích hoạt động kinh doanh của nhà thuốc bích thảo tại phường đội cấn thành phố tuyên quang năm 2019 luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp i

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Hoạt động chăm sóc sức khỏe nhân dân ở Việt Nam 1.1 Vị trí và tầm quan trọng của ngành dược Nhu cầu chăm sóc sức khỏe là nhu cầu tất yếu của mọi thời đại. Ngày nay, con người sử dụng với nhiều mục đích khách nhau, để phòng bệnh, chữa bệnh và nâng cao sức khỏe. Dược phẩm ngày càng trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống nhân dân. Cùng với sự tiến bộ của các nghành khoa học khác, ngành dược ngày càng phát triển, nhiều loại thuốc mới có tác dụng ưu việt hơn đã được nghiên cứu và triển khai.

Khắc phục, cải thiện nhiều tình trạng bệnh tật. Ngày nay, dược phẩm là một vũ khí đặc biệt và rất quan trọng trong cuộc đấu tranh phòng ngừa bệnh tật, kèo dài tuổi thọ, thỏa mãn nhu cầu của con người, nâng cao chất lượng cuộc sống. Nghiên cứu, sản xuất các loại thuốc mới đã trở thành một nhiệm vụ đặc biệt trong nghành y tế, áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật tiên tiến mới nhất nhằm mục đích tìm ra các giải pháp đẩy lùi những tác động xấu của bệnh tật có xu hướng ngày càng phức tạp và nguy hiểm. Đặc biệt trong những năm gần đây vai trò của thuốc trong chăm sóc và bảo vệ sức khỏe đã được các nhà hoạch định chính sách y tế quan tâm, cộng đồng nhân dân chú ý.

Bên cạnh đó, vấn đề đảm bảo thuốc chăm sóc bảo vệ sức khỏe của nhân dân là chiến lược của quốc gia. Nhằm đảm bảo nguồn thuốc cho nhu cầu phòng bệnh, chữa bệnh, phát triển ngành dược, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 68/QĐ-TTg ngày 10 tháng 01 năm 2014 về việc ‘‘Phê duyệt Chiến lược Quốc gia phát triển ngành dược Việt Nam giai đoạn đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030’’[13].2 Lịch sử phát triển của nhà thuốc tại Việt Nam Ở Việt Nam, nhà thuốc đầu tiên có tên là Pharmacy principal Sonirene được mở vào đầu năm 1865 tại Sài Gòn (nay là thành phố Hồ Chí Minh) bởi 3 người Pháp. Vào thời điểm đó, Việt Nam là một thuộc địa của Pháp và tất cả các nhà thuốc đều do thực dân Pháp điều hành [12]. Việt Nam trải qua một thời gian dài chiến tranh đồng thời nền kinh tế khó khăn và lạc hậu đã dẫn đến những hạn chế trong hệ thống chăm sóc sức khỏe.

Một trong những hạn chế đó là dịch vụ nhà thuốc cộng đồng không phát triển trong thời gian đó. Trong những năm 1980, nhà nước đóng một vai trò quan trọng trong hệ thống chăm sóc sức khỏe tại Việt Nam. Đặc biệt, các nhà thuốc của nhà nước là nguồn cung cấp thuốc chính, hoạt động theo cơ chế điều phối thuốc trong hệ thống công ty dược từ trung ương đến công ty địa phương và nhà thuốc, quầy thuốc lẻ trực thuộc công ty dược địa phương [6]. Kể từ cuối thập niên 80 của thế kỷ 20, dịch vụ chăm sóc sức khỏe tư nhân bắt đầu phát triển.

Bác sĩ và dược sĩ lần đầu tiên có quyền mở bệnh viện tư nhân và nhà thuốc tư nhân. Sau những năm 90 hệ thống xã hội chủ nghĩa có nhiều biến đổi đã tác động lên nền kinh tế cũng như cơ chế chuyển mình cho phù hợp với nhu cầu của thời đại. Kinh tế y tế tại Việt Nam chuyển đổi nhanh chóng từ một hệ thống mà vốn và điều hành hoàn toàn bởi nhà nước chuyển dịch sang kinh tế tư nhân đã đầu tư nhiều hơn vào việc chăm sóc y tế. Dưới sự thay đổi về cơ chế quản lý mở ra nhiều cơ hội cho sự phát triển đa thành phần hoạt động kinh doanh về dược nhằm đáp ứng dịch vụ cung ứng thuốc ngày càng tốt hơn.

Kết quả là, bên cạnh các nhà thuốc công được quản lý bởi các doanh nghiệp nhà nước, đã có một số lượng đáng kể nhà thuốc tư nhân được mở ra. Cải cách kinh tế đã thay đổi hệ thống y tế trong hơn hai thập kỷ qua và nhà thuốc tư nhân hiện nay cung cấp phần lớn các loại thuốc cả thuốc không kê đơn và thuốc kê đơn. Nhà thuốc tư nhân đóng một vai trò quan trọng trong hệ thống chăm sóc sức khỏe tại Việt Nam và chính phủ đang nỗ lực chỉ đạo các khu vực tư nhân theo hướng đóng góp nhiều nhất cho sự cải thiện sức khỏe của cộng đồng. 4 Nhằm nâng cao chất lượng cho hệ thống nhà thuốc, Bộ Y tế đã đưa ra tiêu chuẩn nhà thuốc GPP.

Về cơ bản các nhà thuốc đã đạt GPP theo đúng lộ trình quy định tại thông tư số 43/2010/TT-BYT của Bộ Y tế []. Số nhà thuốc tư nhân trên toàn quốc năm 2011 là 10,250, đưa tổng số điểm bán lẻ thuốc lên tới gần 44,000, trung bình cứ 2,000 dân có một điểm bán thuốc. Tính đến năm 2012 đã có 3,950 nhà thuốc đạt tiêu chuẩn GPP, chiếm tỷ lệ 39% tổng số nhà thuốc trên toàn quốc [3].3 Vai trò của nhà thuốc cộng đồng tại Việt Nam Ở Việt Nam, cũng như nhiều nước đang phát triển, các nhà thuốc thường là nơi lựa chọn đầu tiên của người dân để tìm kiếm dịch vụ y tế cho những vấn đề sức khỏe thông thường. Các nhà thuốc này đóng một vai trò quan trọng trong việc cung ứng các loại thuốc cũng như đưa ra lời khuyên và tư vấn về vấn đề sức khỏe.

Tìm hiểu vai trò của nhân viên nhà thuốc và các dịch vụ nhà thuốc cho thấy đôi khi các nhân viên nhà thuốc có thể đóng một vai trò kép như cả bác sĩ và dược sĩ trong thực hành hàng ngày của họ ở nhà thuốc. Điều này có nghĩa là họ vừa có thể kê đơn thuốc cho khách hàng như là một bác sĩ đồng thời vừa cung ứng các loại thuốc như một dược sĩ. Dược sĩ có thể tham gia vào các giai đoạn khác nhau của việc bán thuốc hoặc tư vấn thuốc. Tuy nhiên, dược sĩ vẫn chịu trách nhiệm về mặt pháp lý đối với từng loại thuốc được phân phối và cung ứng.

Dược sĩ quản lý, phụ trách được hỗ trợ bởi nhân viên bán hàng (dược sĩ cao đẳng hay trung học). Hoạt động của nhân viên bán hàng bao gồm việc bán thuốc không kê đơn cũng như tư vấn cho bệnh nhân về bệnh sử dụng thuốc và lối sống lành mạnh nhằm nâng cao thể trạng và sức khỏe. Họ cũng có thể được tham gia vào việc tiếp nhận đơn thuốc và hỗ trợ cung ứng thuốc theo đơn.4 Hành nghề Dược tư nhân ở Việt Nam Quá trình hình thành và phát triển Hoạt động của Hành nghề Dược tư nhân (HNDTN)có nhiều sự thăng trầm 5 qua việc thực hiện các chính sách lớn của Đảng và Nhà nước trong các thời kỳ lịch sử. Theo tài liệu lịch sử thì Nhà thuốc tư nhân (NTTN) hay hiệu bào chế thuốc tây có tại Hà Nội vào năm 1886 do một dược sĩ người Pháp-Ông Julien Blanc làm chủ.

Những năm giữa thế kỷ 20, khi cải cách công thương nghiệp tư bản tư doanh thì ở Hà Nội có trên 20 NTTN, toàn Miền Bắc có trên 100 đại lý thuốc tây và sau khi thống nhất đất nước (1975), ở Miền Nam có khoảng 2200 NTTN, 636 tiệm trữ Dược (Đại lý thuốc tây) và 71 tiệm bào chế tư nhân về dược phẩm (gồm 9 viện lớn, 24 viện nhỡ, 38viện nhỏ). Sau khi tiến hành cải tạo thì việc sản xuất và bán thuốc tân dược do hệ thống Dược phẩm quốc doanh đảm nhiệm, tư nhân không được phép hành nghề [5]. Đến năm 1986, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định 66 cho phép tư nhân được phép tham gia kinh doanh thuốc tân dược. Sau đó, Bộ Y tế ban hành những văn bản hướng dẫn những điều cơ bản cho phép tư nhân tham gia vào việc kinh doanh thuốc chữa bệnh cho người.

Năm 1993 Nhà nước đã chính thức hoá việc này bằng Pháp lệnh “Hành nghề y dược tư nhân” [6].5 Vị trí, vai trò của hành nghề dược tư nhân Hệ thống phân phối thuốc tư nhân đã góp phần tích cực vào việc cung ứng thuốc phòng và chữa bệnh, thuận tiện cho người bệnh trong việc mua thuốc, chấm dứt tình trạng khan hiếm thuốc trước đây [5]. Hiện nay số lượng, chủng loại thuốc ngày càng đa dạng, phong phú, người thầy thuốc được lựa chọn thuốc, người dân cũng có thể mua thuốc để tự điều trị cho mình [5]. Hoạt động của HNDTN đã tạo luồng sinh khí mới trong ngành Y tế, tạo lòng tin của dân đối với Đảng và Nhà nước. HNDTN phát triển đã chứng minh được đường lối chủ trương của Đảng trong công cuộc đổi mới là đúng đắn [5].6 Nhà thuốc GPP Các cơ sở bán lẻ thuốc cần thực hiện theo lộ trình nguyên tắc thực hành tốt nhà thuốc (GPP); đảm bảo tư vấn, hướng dẫn nhân dân sử dụng thuốc hợp lý, an 6 toàn, hiệu quả là mục tiêu cơ bản của chính sách Quốc gia về thuốc của Việt Nam.

Mọi nguồn thuốc sản xuất trong nước hoặc nhập khẩu, đến được tay người tiêu dùng hầu hết đều trực tiếp thông qua hoạt động của các cơ sở bán lẻ thuốc (nhà thuốc, quầy thuốc, đại lý thuốc). ‘‘Thực hành tốt nhà thuốc’’ (Good Pharmacy Practice, viết tắt: GPP) là văn bản đưa ra các nguyên tắc, tiêu chuẩn cơ bản trong thực hành nghề nghiệp tại nhà thuốc của dược sỹ và nhân sự dược trên cơ sở tự nguyện tuân thủ các tiêu chuẩn đạo đức và chuyên môn ở mức cao hơn những yêu cầu pháp lý tối thiểu [2]. Các nguyên tắc GPP Đặt lợi ích Cung cấp thuốc Tham gia vào Góp phần của người đảm bảo chất lượng hoạt động tự đẩy mạnh bệnh và kèm theo thông tin điều trị, bao việc kê đơn sức khỏe về thuốc, tư vấn gồm cung cấp phù hợp, của cộng thích hợp, cho thuốc và tư vấn kinh tế và đồng lên người sử dụng và thuốc, tự điều việc sử dụng trên hết theo dõi việc sử trị triệu chứng thuốc an dụng thuốc của họ của các bệnh toàn, hợp lý, đơn giản hiệu quả Hình 1. Các nguyên tắc GPP của Việt Nam [2] 7 “Thực hành tốt nhà thuốc – GPP’’ gồm 03 tiêu chuẩn sau được trình bày như hình 1.

Nhân sự Cơ sở vật chất và trang thiết bị Hoạt động chuyên môn Hình 1. Các tiêu chuẩn ‘‘Thực hành tốt nhà thuốc – GPP’’ Với các nguyên tắc đặt lợi ích người bệnh lên hàng đầu, lựa chọn thuốc tốt, đào tạo nhân viên, đào tạo lại liên tục giúp cập nhật kiến thức chuyên môn, các văn bản quy phạm pháp luật để từng bước nâng cao chất lượng dịch vụ, tạo ra sự khác biệt của nhà thuốc GPP. Thực hiện tốt các quy trình S.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ