CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm về phân tích hoạt động kinh doanh “Phân tích, hiểu theo nghĩa chung nhất là sự chia nhỏ sự vật và hiện tượng trong mối quan hệ hữu cơ giữa các bộ phận cấu thành sự vật, hiện tượng đó” (Phạm Thị Gái, 2004) “Phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình nghiên cứu để đánh giá toàn bộ và kết quả của hoạt động kinh doanh; các nguồn tiềm năng cần khai thác ở doanh nghiệp, trên cơ sở đó đề ra các phương án và giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp”. (Trịnh Văn Sơn, 2005) Phân tích hoạt động kinh doanh gắn liền với mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của còn người.
Ban đầu, trong điều kiện sản xuất kinh doanh chưa phát triển, yêu cầu thông tin cho quản lý doanh nghiệp chưa nhiều, chưa phức tạp, công việc phân tích cũng được tiến hành chỉ là những phép tính cộng trừ đơn giản. Khi nền kinh tế càng phát triển, những đòi hỏi về quản lý kinh tế không ngừng tăng lên. Để đáp ứng nhu cầu quản lý kinh doanh ngày càng cao và phức tạp, phân tích hoạt động kinh doanh được hình thành và ngày càng được hoàn hiệ với hệ thống lý luận độc lập. Như vậy, phân tích kinh doanh là quá trình nhận biết bản chất và sự tác động của các mặt của hoạt động kinh doanh, là quá trình nhận thức và cải tạo hoạt động kinh doanh một cách tự giác và có ý thức, phù hợp với điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp và phù hợp với yêu cầu của các quy luật kinh tế khách quan nhằm mang lại hiệu quả kinh doanh cao.
Mục đích của phân tích hoạt dộng kinh doanh Phân tích hoạt động kinh doanh nhằm nghiên cứu, phân tích, đánh giá tình hình kinh tế, tình hình tà chính và nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả của tình hình đó. Kết quả phân tích là cơ sở dự báo, hoạch định chính sách và ra quyết định hoạt động kinh doanh của tất cả các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế. Phân tích hoạt động kinh doanh nhằm đánh giá kết quả và nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh. Hiệu quả trên góc độ nền kinh tế mà người ta nhận thấy được là 5 năng lực sản xuất, tiềm lực kinh tế, khả năng phát triển kinh tế nhanh hay chậm, khả năng nâng cao mức sống của nhân dân của đất nước trên cở sở khái thác hết các nguồn nhân tài và vật lực cũng như nguồn lực phát triển kinh tế của đất nước.
Sau khi phân tích kết quả hoạt động kinh doanh, việc gắn liền hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp với tồn xã hội giúp điều chỉnh mối quan hệ cung ứng nhu cầu để có nhận biết cải tạo chất lượng sản phẩm, dịch vụ và quy mô hoạt động tốt nhất. Vai trò của phân tích hoạt động kinh doanh Phân tích hoạt động kinh doanh là công cụ để phát hiện những khả năng tiềm tàng trong hoạt động kinh doanh mà còn là công cụ cải tiến cơ chế quản lý trong kinh doanh. Là cơ sở ra quyết định đúng trong các chức năng quản lý, kiểm tra, đánh giá, điều hành hoạt động kinh doanh. Cho phép doanh nghiệp nhìn nhận đúng đắn về khả năng, sức mjanh, hạn chế của của mình để xác định đúng mục tiêu, chiến lược lược kinh doanh có hiệu quả.
Là biện pháp quan trọng để phòng ngừa rủi ro qua phân tích hoạt động kinh doanh các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp có quyết định đúng đắn trong việc hợp tác với doanh nghiệp. Bên cạnh đó, phân tích kinh doanh giúp doanh nghiệp dự báo được những xu hướng, biến động trong tương lai từ đó có những biện pháp đề phòng và hạn chế rủi ro trong kinh doanh. Nhiệm vụ của việc phân tích hoạt động kinh doanh Kiểm tra và đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh thông qua các chỉ tiêu kinh tế đã xây dựng: nhiệm vụ trước tiên của phân tích là đánh giá và kiểm tra khái quát giữa kế hoạch đạt được so với các mục tiêu kế hoạch, dự đoán, định mức,. đã đặt ra để khẳng định tính đúng đắn và khoa học của chỉ tiêu xây dựng trên một số mặt chủ yếu của quá trình hoạt động kinh doanh.
Xác định các nhân tố ảnh hưởng của các chỉ tiêu và tìm nguyên nhân gây nên các mức độ ảnh hưởng đó. Phân tích kết quả kinh doanh không chỉ đánh giá kết quả chung, mà cũng không chỉ dừng lại ở chỗ xác định nhân tố và tìm nguyên nhân, mà phải từ cơ sở nhận thức đó phát hiện các tiềm năng cần phải được khai thác, và những chỗ còn tồn tại yếu kém, nhằm đề xuất các giải pháp phát huy thế mạnh và khắc phục tồn tại ở doanh nghiệp của 6 mình. Ý nghĩa của việc phân tích hoạt động kinh doanh Phân tích hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp là việc đánh giá những triển vọng và rủi ro của doanh nghiệp đó nhằm mục đích có thể đưa ra những quyết định. Những quyết định này bao gồm việc định giá được vốn chủ sở hữu định giá được nợ phải trả, đánh giá được rủi ro tín dụng, dự báo được thu nhập của doanh nghiệp trong tương lai, kiểm chứng lại báo cáo kiểm toán, đưa ra được các thương lượng bồi thường và rất nhiều các quyết định khác nữa.
Phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trợ giúp chúng ta rất nhiều trong việc đưa ra các quyết định chính thức vì nó giúp chúng ta tổ chức công việc ra quyết định một cách có hệ thống bao gồm đánh giá môi trường kinh doanh của doanh nghiệp, chiến lược, tình trạng và hoạt động tài chính của doanh nghiệp đó. Khái niệm về kinh doanh bảo hiểm Về khái niệm, căn cứ tại khoản 1 Điều 3 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000 quy định về khái niệm kinh doanh bảo hiểm cụ thể như sau: Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Về nguyên tắc cơ bản, căn cứ tại Điều 6 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000 (được sửa đổi bởi khoản 2 Điều 1 Luật kinh doanh bảo hiểm sửa đổi 2010) quy định về những nguyên tắc cơ bản trong hoạt động bảo hiểm cụ thể như sau: - Tổ chức, cá nhân có nhu cầu bảo hiểm chỉ được tham gia bảo hiểm tại doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động tại Việt Nam; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, người nước ngoài làm việc tại Việt Nam có nhu cầu bảo hiểm được lựa chọn tham gia bảo hiểm tại doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động tại Việt Nam hoặc sử dụng dịch vụ bảo hiểm qua biên giới. - Doanh nghiệp bảo hiểm phải bảo đảm các yêu cầu về tài chính để thực hiện các 7 cam kết của mình đối với bên mua bảo hiểm.
Bảo hiểm là một hoạt động qua đó một cá nhân có quyền được hưởng trợ cấp bảo hiểm nhờ vào một khoản đóng góp cho mình hoặc cho người thứ ba trong trường hợp xảy ra rủi ro. Khoản trợ cấp này do một tổ chức trả, tổ chức này có trách nhiệm đối với toàn bộ các rủi ro và đèn bùn các thiệt hại theo các phương pháp thống kê. Bên cạnh đó có rất nhiều khái niệm khác nhau về bảo hiểm. Đó là: Theo Dennis Kessler: Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít.
Theo Monique Gaullier: Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc để cho người thức ba trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thất được tả bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm. Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp thống kê. Tập đoàn bảo hiểm AIG của Mỹ định nghĩa: Bảo hiểm là một cơ thể, theo cơ chế này, một người, một doanh nghiệp hay một tổ chức chuyển nhượng rủi ro cho công ty bảo hiểm, công ty đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuọc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảo hiểm. Bảo hiểm phi nhân thọ - Bảo hiểm phi nhân thọ: là bảo hiểm tự nguyện hướng tới con người và các đối tượng liên quan đến con người, như tai nạn, sức khỏe, hàng hóa (kho vận, tàu xe, tàu hàng,.), nhằm đảm bảo cho các rủi ro đó.
Mỗi hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ thường có thời hạn 1 đến 2 năm hoặc ngắn hơn. - Hình thức chi trả mức phí: Người tham gia bảo hiểm, chỉ cần chi trả một lần phí cho một gói bảo hiểm phi nhân thọ. Các công ty phát hành sản phẩm, sẽ cam kết các chi trả bồi thường, cho những rủi ro, tổn thất về tinh thần, sức khỏe, cơ thể lẫn vật chất được quy định trong hợp đồng cho người tham gia bảo hiểm trong thời hạn của bảo hiểm. - Người thụ hưởng: là nạn nhân trực tiếp hoặc gián tiếp của sự cố - Chi trả quyền lợi bảo hiểm: chỉ được bồi thường tổn thất do các rủi ro gây ra 8 trong giới hạn hợp đồng.
- Các loại hình bảo hiểm phi nhân thọ: là bảo hiểm đảm bảo cho những rủi ro liên quan đến con người mang tính chất ngắn hạn và ổn định và độc lập với tuổi thọ của con người nên được chia thành các loại như sau: Bảo hiểm tài sản và Bảo hiểm thiệt hại; Bảo hiểm hàng không; Bảo hiểm xe cơ giới; Bảo hiểm cháy, nổ; Bảo hiểm trách nhiệm; Bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính; thiệt hại kinh doanh và Bảo hiểm bảo lãnh. Nội dung phân tích hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp 1. Phân tích tình hình doanh thu của doanh nghiệp Doanh thu phí bảo hiểm phản ánh tổng doanh thu phí bảo hiểm gốc và nhận tái bảo hiểm sau khi trừ (-) các khoản, gồm: giảm phí bảo hiểm gốc, giảm phí nhận tái bảo hiểm, hoàn phí bảo hiểm gốc, hoàn phí nhận tái bảo hiểm và chênh lệch tăng, giảm dự phòng phí bảo hiểm gốc và nhận tái bảo hiểm trong kỳ báo cáo của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ.