Chương 1. Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý luận về hoạt động cho vay hộ sản xuất kinh doanh khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại Chương 2. Thực trạng phát triển hoạt động cho vay hộ sản xuất kinh doanh tại ngân hàng thương mại cổ phần A Châu — Phòng giao dịch Vạn Phúc. Giải pháp phát triển hoạt động cho vay hộ sản xuất kinh doanh tại ngân hàng thương mại cổ phần A Châu — Phòng giao dịch Vạn Phúc.
12 CHUONG 1: TONG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VE HOAT DONG CHO VAY HỘ SAN XUAT KINH DOANH KHACH HANG CA NHAN CUA NGAN HANG THUONG MAI. Tổng quan nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu về hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại Nghiên cứu về hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại có thể nói đến tác giả Huỳnh Lê Hoài Tâm năm 2016 đã viết về đề tài: “Phân tích tình hình cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Quảng Nam”. Bài viết đã hệ thống hóa cơ sở lý luận phân tích hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của Ngân hàng thương mại.
Phân tích, đánh giá thực trang hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hang Thương mại cổ phan Đầu tư và Phát triển Việt Nam, chi nhánh Quảng Nam và dé ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của Ngân hàng Thương mại cô phan Dau tư và Phát triển Việt Nam, chi nhánh Quảng Nam. Một nghiên cứu khác tương tự của tác giả Nông Thị Hoa (2020): “Phân tích hoạt động cho vay kháchhàng cá nhân có tài sản đảm bảo tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đông Á chi nhánh Huế” đề tài này hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân có tài sản đảm bảo tại Ngân hàng Thương mại Cổ phan Đông A chi nhánh Huế và đã đưa ra các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của ngân hàng là năng lựccạnh tranh của ngân hàng, pháp lý, sự phát triển của khoa học công nghệ, yếu tố kinh tế-xã hội, khách hàng là những yếu tố chính tác động đến hoạt động cho vay của ngân hàng. Nghiên cứu của Phạm Thị Dung (2015): “Phân tích tình hình cho vay ngắn hạn tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu” đề tài này chủ yếu phan tích thực trạng tín dụng và đề xuất giải pháp mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng tại ngân hàng qua các 13 năm 2012, 2013, 2014 và đã đưa ra được một số biện pháp nâng cao hoạt động cho vay ngắn hạn là đa dạng hóa đối tượng cho vay, mở rộng mạng lưới hoạt động, mở rộng quan hệ khách hàng, nâng cao chất lượng công tác thâm định tín dụng,tăng cường công tác xét duyệt cho vay, kiểm tra, kiểm soát việc sử dụng vốn, nâng cao trình độ cán bộ nhân viên. Ngoài ra còn có Nghiên cứu của Nguyễn Anh Đức (2015): “Phát triển hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Thương Mại Cổ phần Kỹ Thương Việt Nam” đề tài này hệ thống hóa các van dé lý luận cơ bản về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại, phân tích thực trạng về hoạt động cho vay khách hàng cá nhân từ đó đưa ra các đánh giá và đề xuất các giải pháp phát triển hoạt động cho vay khách hàng cá nhân.
Các giải pháp phát triển hoạt động cho vay khách hàng cá nhân đề tài này đưa ra là phát triển kênh phân phối, phát triển sản phẩm, nâng cao chất lượng tin dụng, dau tư hạ tang công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, tăng cường hoạt động marketing, mở rộng khách hàng. Các công trình nghiên cứu về hoạt động cho vay hộ sản xuất kinh doanh tại ngân hàng thương mai. Nghiên cứu về hoạt động cho vay hộ sản xuất kinh doanh thì có tác giả Lê Thị Hồng Hạnh trong nghiên cứu “Phân tích hoạt động cho vay hộ kinh doanh tai Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn — Chi nhánh huyện Kbang, tinh Gia Lai” năm 2017. Tác giả đã hệ thống hóa những van dé lý luận cơ bản về phân tích hoạt động cho vay hộ kinh doanh của NHTM, phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động cho vay hộ kinh doanh tại NHNN&PTNT - Chi nhánh huyện Kbang, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động cho vay hộ kinh doanh tạ NHNN&PTNT - Chi nhánh huyện Kbang.
Ngoài ra còn có tác giả Nguyễn Văn Thanh viết về luận văn thạc sĩ “Mở rộng cho vay hộ sản xuất tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát 14 triển Nông thôn huyện An Nhơn năm 2012, bài viết phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận vốn vay của Hộ sản xuất ở Huyện An Nhơn. Đánh giá những kết quả đạt được, những tồn tại trong thời gian qua trên cơ sở đó dé ra một số giải pháp cho vay HKD nhằm góp phan thúc đây hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Huyện An Nhơn ổn định và phát triển vững chắc; Mở rộng dau tư vốn cho các Hộ sản xuất dé tận dụng, khai thác những tiềm năng sẵn có về tài nguyên đất đai, mặt nước, lao động, tài nguyên khác. làm ra nhiều sản phâm cho xã hội, cải thiện đời sống nhân dân, đảm bảo trả nợ được nguồn vốn vay ngân hàng. Tác giả Phạm Thanh Trang vào năm 2004 đã viết về “ Giải pháp nâng cao hiệu quả Tín dụng đối với Hộ sản xuất tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Huyện Ninh Giang”.
Đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu về tình hình cấp tín dụng tai đơn vi, qua đó xác định được những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả cấp tín dụng, và đề ra giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cấp tín dụng tại NHNN&PTNT Huyện Ninh Giang. Một bài viết của Huỳnh Lê Hoài Tâm vào năm 2016 là Phân tích tình hình cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Quảng Nam. Luận văn vận dụng kết hợp các phương pháp cụ thê như: thống kê, so sánh số tuyệt đối, tương đối qua các năm, tổng hợp dé phân tích tình hình cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng TMCP BIDV, chi nhánh Quảng Nam và đề ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của Ngân hang Thương mại cổ phan Đầu tu và Phát triển Việt Nam, chi nhánh Quảng Nam. Và cuối cùng là luận văn của tác giả Phạm Thu Hương năm 2015 viết về Thực trạng cho vay khách hàng cá nhân và giải pháp tại Ngân hàng thương mại cô phan A Châu — chi nhánh Hà Nội.
Nội dung chính của báo cáo bao gồm tổng quan về họat động tín dụng của Ngân hàng thương mại, thực trạng mở rộng cho vay khách hàng cá nhân tại NH TMCP Á Châu — 15 trụ sở Hà Nội giai đoạn 2008 -2010 và giải pháp mở rộng cho vay khách hàng cá nhân tại NH TMCP Á Châu - trụ sở Hà Nội. Từ những giá trị tham khảo từ các tài liệu và các công trình nghiên cứu, cùng với thực tế hạn chế trong hoạt động cho vay hộ sản xuất kinh doanh tại ACB — Phòng giao dịch Vạn Phúc đây là cơ sở lý luận quan trọng giúp học viên thực hiện đề tài: “Cho vay khách hàng hộ sản xuất kinh doanh tại ngân hàng thương mại cổ phần A Châu — Phòng giao dịch Vạn Phúc”. Cơ sở lý luận về hoạt động cho vay sản xuất kinh doanh khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại 1. Khái quát về hộ sản xuất kinh doanh 1.
Khái niệm về hộ sản xuất kinh doanh Từ quan điểm của các ngân hàng, thuật ngữ "hộ sản xuất kinh doanh" được sử dụng để ám chỉ việc cung cấp vốn tín dụng cho hộ gia đình nhằm thúc day kinh tế chung của gia đình. Hiện nay, trong các văn ban pháp luật của Việt Nam, hộ gia đình được xem như là một chủ thể trong các mối quan hệ dân sự theo quy định của pháp luật va được định nghĩa là một đơn vi có các thành viên cùng hộ khẩu, tài sản và hoạt động kinh tế chung. Ngoài thuật ngữ "hộ sản xuất kinh doanh", còn có một số thuật ngữ khác như "ho", "hộ gia đình" được sử dụng dé thay thé. Theo pháp luật của nước ta quy định, hộ kinh doanh là phần nội dung được quy định tại các văn bản luật và văn bản dưới luật.
Hộ kinh doanh được quy định tại khoản 1 điều 79 thuộc ND 01/2021/NĐ-CP với nội dung cụ thé như sau: Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc các thành viên hộ gia đình đăng ký thành lập và chịu trách nhiệm băng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh của hộ. Trường hợp các thành viên hộ gia đình đăng ký hộ kinh doanh thì ủy quyền cho một thành viên làm đại diện hộ kinh doanh. Cá nhân 16 đăng ký hộ kinh doanh, người được các thành viên hộ gia đình ủy quyền làm đại diện hộ kinh doanh là chủ hộ kinh doanh. Hộ sản xuất kinh doanh sử dụng trí tuệ và năng lực sản xuất của mình dé tổ chức hoạt động kinh tế một cách đa dạng và phong phú, tạo ra nhiều sản phẩm hàng hóa, từng bước nâng cao đời sống, mở rộng sản xuất và tích lũy tài sản cho bản thân và xã hội.
Đặc trưng cua hộ san xuất kinh doanh Thứ nhất, hộ sản xuất kinh doanh có thê do nhiều người làm chủ. Theo Điều 66 Nghị định 78/2015/NĐ-CP, hộ kinh doanh có thể do: - Một cá nhân làm chủ; - Hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ làm chủ; - Hoặc một hộ gia đình làm chủ. Do vậy, đối với hộ kinh doanh do một cá nhân làm chủ, cá nhân đó có toàn quyền quyết định về mọi hoạt động kinh doanh của hộ (tương tự chủ doanh nghiệp tư nhân đối với doanh nghiệp tư nhân). Đối với hộ kinh doanh do một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, mọi hoạt động kinh doanh do các thành viên quyết định.
Nhóm người hoặc hộ gia đình cử một người làm đại diện dé thực hiện các giao dịch với bên ngoài. Thứ hai hộ kinh doanh không có tư cách pháp nhân.