Chương 1: Tổng quan các vấn đề nghiên cứu Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cứu Chương này cung cấp các thông tin về các phương pháp nghiên cứu và nội dung thực nghiệm trong luận văn, trong đó có các nội dung chính: - Phương pháp chiết tách - Phương pháp phân tích HCDCT - Phương pháp đánh giá độc tính - Phương pháp xử lý số liệu - Phương pháp phân tích, tổng hợp Chương 3: Phần kết quả và thảo luận 4 Chương này tập trung vào 4 nội dung kết quả chính: - Kết quả tổng quan các HCDCT phát hiện trong mẫu bụi không khí tại khu vực dân cư của Hà Nội. - Mối tương quan của các HCDCT trong mẫu bụi không khí thu thập ban ngày và ban đêm. - Kết quả phân tích một số HCDCT đặc trưng trong bụi không khí. - Bước đầu đánh giá phơi nhiễm của một số HCDCT trong bụi không khí đối với sức khỏe con người qua đường hô hấp.
- Kết luận Dự kiến kết quả nghiên cứu của luận văn về mặt khoa học sẽ định hướng về nghiên cứu, phân tích nồng độ HCDCT trong bụi không khí, qua đó sẽ đóng góp những công cụ để giúp cho việc đánh giá tác động môi trường của các nhà nghiên cứu và quản lý môi trường về mặt thực tiễn cũng như đánh giá các nguy cơ phơi nhiễm một số HCDCT trong bụi không khí đối với sức khỏe con người qua đường hô hấp. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. TỔNG QUAN VỀ HIỆN TRẠNG Ô NHIỄM KHÔNG KHÍ VÀ CÁC HỢP CHẤT HÓA HỌC TRONG MÔI TRƯỜNG TẠI HÀ NỘI 1. Thực trạng ô nhiễm bụi trong MTKK tại Hà Nội Ô nhiễm bụi trong không khí từ lâu đã là một vấn đề bức xúc ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam, đặc biệt là ở các khu đô thị, khu công nghiệp và các làng nghề.
Quá trình đô thị hóa đã đẩy nhanh sự gia tăng dân số, phượng tiện giao thông cơ giới, hoạt động xây dựng và công nghiệp chính là những tác nhân gây ra ô nhiễm bụi tại các thành phố lớn. Theo kết quả điều tra về tác động của ô nhiễm không khí đô thị và nông thôn tới chất lượng không khí và khí hậu khu vực Đông Nam Á cho thấy, kết quả PM10 và PM 2.5 trung bình của 400 mẫu bụi tại Hà Nội đo được năm 2006-2008 lần lượt là 60-157 µg/m3 và 42-134 µg/m3 trong đó nồng độ bụi PM2.5 cao hơn mức khuyến cáo của cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ (35 µg/m3) và Tổ chức Y tế thế giới (25µg/m3). Kết quả quan trắc chất lượng môi trường không khí do Trung tâm Quan trắc môi trường (Tổng cục Môi trường) công bố cuối tháng 4-2016 cảnh báo mức độ ô nhiễm bụi PM2.5 tại Hà Nội cao gấp hơn 3 lần mức khuyến cáo theo Quy chuẩn quốc gia về chất lượng không khí xung quanh (QCVN 05:2013/BTNMT) và gấp 7 lần so với khuyến cáo của Tổ chức Y tế thế giới. Trước đó, báo cáo môi trường quốc gia năm 2013 của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy, ô nhiễm bụi tập trung cao ở các đô thị có mật độ giao thông lớn như Hà Nội, đặc biệt tại các trục giao thông nồng độ bụi thường tăng cao vào các giờ cao điểm do thời điểm này số lượng phương tiện giao thông trên đường thường cao nhất trong ngày.
6 Tác nhân gây ô nhiễm không khí ở Hà Nội chủ yếu đến từ các nguồn thải nhân tạo từ hoạt động giao thông, dân sinh, xây dựng, công nghiệp. diễn ra thường xuyên nên lượng phát thải mang tính liên tục. Trong đó, hoạt động giao thông, xây dựng là những tác nhân tạo ra lượng bụi mịn lớn. Ngoài ra, tình trạng người dân ở miền Bắc có thói quen đốt phế phẩm nông nghiệp sau thu hoạch, góp phần gia tăng lượng bụi mịn PM2.5 trong không khí.
Các nguồn phát thải của con người là nguyên nhân chính của tình trạng ô nhiễm không khí. Chất lượng không khí bị tác động từ 2 yếu tố chính là nguồn phát thải (do con người) và các yếu tố tự nhiên (núi lửa, cháy rừng, bão cát, các quá trình phân huỷ tự nhiên). Nguyên nhân chính gây ra tình trạng bụi PM2.5 tăng cao là do các nguồn phát thải của con người, có thể kể đến các nguyên nhân chủ yếu như sau: Thứ nhất, một trong các nguồn phát sinh bụi, khí thải chính ở các đô thị lớn, đặc biệt là tại Hà Nội là khí thải từ hoạt động giao thông. Tiêu chuẩn khí thải của Việt Nam đối với ô tô, xe máy cũng đang đi sau so với nhiều nước trên thế giới, vì vậy dẫn đến tình hình phát sinh khí thải từ các phương tiện giao thông chưa được kiểm soát hiệu quả.
Thứ hai, gây ô nhiễm không khí là do hoạt động xây dựng tại các đô thị như xây dựng, sửa chữa, cải tạo đường giao thông, các khu chung cư, nhà cao tầng, xây dựng công trình công ích (lát vỉa hè, cải tạo sửa chữa đường ống điện, nước v. Ví dụ, vào thời điểm hiện nay trên địa bàn thành phố Hà Nội có khoảng 1.000 dự án công trình xây dựng, giao thông đang được triển khai. Việc chưa nghiêm túc thực hiện các yêu cầu về vệ sinh môi trường, che chắn bụi tại các công trường xây dựng và phương tiện chuyên chở nguyên vật liệu, phế thải xây dựng, rửa xe trước khi ra khỏi công trường, phun nước rửa đường… đã làm phát sinh lượng lớn bụi vào môi trường không khí. Thứ ba, hoạt động của các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, các cơ sở công nghiệp trên địa bàn Hà Nội và các tỉnh lân cận cũng là một nguồn phát sinh bụi, khí thải lớn gây ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng không khí.
Thứ tư, khí thải từ hoạt động dân sinh (trên địa bàn Hà Nội có khoảng 60.000 bếp than tổ ong); bụi, khói mù từ hoạt động đốt rơm rạ sau thu hoạch 7 ở khu vực ngoại thành; hoạt động đốt chất thải sinh hoạt, chất thải sản xuất không đúng quy định cũng là một trong những nguyên nhân chính gây ô nhiễm không khí. Bên cạnh các nguyên nhân trên, chất lượng không khí ở các đô thị cũng có thể bị ảnh hưởng do lan truyền ô nhiễm không khí xuyên biên giới, ví dụ chất lượng không khí ở thành phố Hà Nội có thể bị ảnh hưởng nhất định do cháy rừng ở các nước giáp biên giới Việt Nam. Tuy nhiên, các nguyên nhân ô nhiễm nội tại vẫn là chủ yếu. Hiện trạng ô nhiễm các hợp chất hóa học trong bụi không khí Bức tranh chất lượng không khí Hà Nội đang ngày một xám đi.
Trong bộ dữ liệu tích lũy được từ việc phân tích xác định hàm lượng của 20 nguyên tố hóa học và carbon đen trong các mẫu bụi PM2.5-10 thu góp được với tần suất 2 ngày đêm/tuần trong vòng 15 năm (từ những năm 2000) bằng những kỹ thuật phân tích hạt nhân - phương pháp có nhiều ưu thế vượt trội nhờ khả năng phân tích đồng thời đa nguyên tố với độ nhạy, độ chính xác cao mà không đòi hỏi quy trình xử lý mẫu quá phức tạp. Tại Hà Nội hay bất cứ địa điểm nào, những hạt bụi cỡ PM2.5 và PM10 đang lơ lửng trong bầu khí quyển đều xuất phát từ các nguồn là tự nhiên và hoạt động của con người. Độc tính của các hoá chất hóa học độc hại có khả năng được hấp phụ trên bụi không khí đối với sức khỏe con người là rất cao. Đối với các hợp chất hữu cơ khuếch tán trong không khí, thành phần hữu cơ PAHs - bám trên hạt bụi PM2.5 có khả năng gây ung thư cho người hít phải [2].
Hạt bụi nó có độc tính hay không là do các chất bám trên đó. Tại các thành phố lớn với lưu lượng giao thông lớn như Hà Nội, PAHs xuất phát từ việc đốt nhiên liệu hóa thạch trong các động cơ đốt trong của ô tô, xe máy. Khi cơ thể bị phơi nhiễm thì lượng PAHs được vận chuyển vào tận nhân tế bào và hạt bụi kích thước càng nhỏ thì độc tính càng cao. Ngoài ra, các hợp chất hóa học độc hại khác đi kèm với bụi, như: CO, NOx, SO2, O3,.
Ngoài ra, ô nhiễm không khí Hà Nội không thể không nhắc đến, đó là carbon đen phát sinh từ đốt cháy rơm rạ. Khi đốt cháy rơm rạ sau thu hoạch, 8 tổng lượng ô nhiễm phát sinh là không quá lớn nhưng thời gian tập trung đốt rất ngắn, khoảng hai tuần cao điểm nên đã gây ra hiện tượng ô nhiễm cục bộ. Nhiều khí thải được tạo ra như CO2, CH4, carbon đen – chất tồn lưu thời gian ngắn trong khí quyển và là thành phần tác động quan trọng gây ra biến đổi khí hậu. Các nhà khoa học ước tính: “Khi đốt cháy một kg rơm rạ ngoài đồng ruộng thì nó sẽ phát thải ra 0.5 gam carbon đen, 9 gam PM10, 8 gam PM2.5, CO2 lên đến 1177 gam”.
TỔNG QUAN HIỆN TRẠNG CÁC HÓA CHẤT DIỆT CÔN TRÙNG HIỆN ĐANG ĐƯỢC PHÉP SỬ DỤNG TẠI VIỆT NAM 1. Đặc điểm của các hóa chất diệt côn trùng Hóa chất, chế phẩm diệt côn trùng là những chất độc có nguồn gốc từ tự nhiên hay hóa chất tổng hợp được dùng để diệt muỗi, ruồi, kiến, gián, bọ chét… Đây là những loại côn trùng gây hại cho sức khỏe con người và ảnh hưởng đến cuộc sống, sinh hoạt của người dân. Ngoài việc sử dụng trong hệ thống y tế dự phòng, hóa chất diệt côn trùng còn được các cơ sở dịch vụ phun hóa chất hoặc người dân sử dụng cho các mục đích ngăn ngừa các ảnh hưởng bất lợi do côn trùng gây ra. Số lượng và chất lượng hóa chất diệt côn trùng sử dụng ở nước ta hiện chưa có số liệu thống kê đầy đủ.
Tuy nhiên, tại các cơ sở y tế đã ghi nhận những trường hợp tổn thương hệ thần kinh, cơ quan hô hấp, mắt, da, tiêu hóa do sử dụng hóa chất diệt côn trùng không đảm bảo chất lượng cũng như không tuân thủ các hướng dẫn an toàn trong sử dụng. Tại nước ta, việc sử dụng hóa chất diệt côn trùng ngày càng tăng.000 tấn hóa chất diệt côn trùng, gấp 100 lần năm 1975 và gấp 10 lần năm 1980. Các loại hóa chất diệt côn trùng cũng gia tăng về chủng loại. Số chế phẩm diệt côn trùng đăng ký lưu hành năm 2010 là 62 chế phẩm, gấp hơn 20 lần năm 2000 và tăng 5 chế phẩm so với năm 2006.
Theo Bộ Y tế, danh mục hóa chất, chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn được khảo nghiệm, đăng ký lưu hành và cấp giấy phép theo đúng quy định và quản lý chặt chẽ. Tuy nhiên, tại nước ta hiện chưa có cơ sở dữ liệu quốc gia về hóa chất.