Tổng quan nghiên cứu

Thực trạng suy giảm chất lượng không khí tại các đô thị lớn đang là thách thức y tế và môi trường nghiêm trọng. Theo số liệu của Tổ chức Y tế Thế giới, ô nhiễm không khí tại Việt Nam liên quan trực tiếp đến hơn 60.000 ca tử vong mỗi năm do các bệnh tim mạch, đột quỵ và hô hấp mãn tính. Tại Thủ đô Hà Nội, nồng độ bụi mịn PM2.5 trung bình ghi nhận ở mức 42-134 µg/m3, vượt gấp nhiều lần mức khuyến cáo an toàn của Tổ chức Y tế Thế giới là 25 µg/m3 và quy chuẩn quốc gia. Đáng chú ý, các hạt bụi lơ lửng không chỉ gây tổn thương cơ học mà còn là giá thể hấp phụ hàng loạt hóa chất hữu cơ độc hại.

Trong cơ cấu sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật tại Việt Nam, số liệu thống kê ghi nhận khoảng 120.000 tấn hóa chất được tiêu thụ hàng năm, trong đó nhóm hóa chất diệt côn trùng chiếm tỷ trọng áp đảo lên tới 83,2%. Riêng tại Hà Nội, gần 0,3% tổng lượng hóa chất được sử dụng cho 188.000 ha đất canh tác nông nghiệp và công tác phòng dịch dân sinh. Tuy nhiên, các nghiên cứu quan trắc hóa chất diệt côn trùng trong pha bụi khí quyển vẫn còn rất hạn chế.

Đề tài được thực hiện nhằm phát hiện, định lượng đồng thời 107 hoạt chất diệt côn trùng trong bụi không khí tại khu vực dân cư phường Phú Đô, quận Nam Từ Liêm, Hà Nội trong giai đoạn từ tháng 6 đến tháng 10 năm 2020. Nghiên cứu mang ý nghĩa tiên phong khi cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm về 17 hoạt chất phát hiện được, xác định rõ nguồn gốc phát thải từ hoạt động kiểm soát dịch sốt xuất huyết và canh tác nông nghiệp, đồng thời tính toán định lượng nguy cơ phơi nhiễm qua đường hô hấp đối với sức khỏe cộng đồng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết lan truyền và chuyển hóa chất ô nhiễm trong khí quyển, kết hợp với khung đánh giá rủi ro sức khỏe môi trường của Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ và Liên minh Châu Âu. Quá trình phát tán của hóa chất diệt côn trùng trong không khí chịu sự chi phối bởi 5 cơ chế vật lý - hóa học chính: sự bay hơi, quang phân dưới bức xạ mặt trời, rửa trôi theo nước mưa, hấp phụ lên bề mặt hạt bụi và phân hủy sinh học bởi vi sinh vật.

Hệ thống lý thuyết phân loại tập trung vào 5 nhóm hóa chất diệt côn trùng tổng hợp chủ đạo gồm: nhóm Clo hữu cơ bền vững khó phân hủy, nhóm Phốt pho hữu cơ ức chế men acetylcholinesterase, nhóm Carbamate, nhóm Pyrethroid chiết xuất và tổng hợp từ hoa cúc, cùng nhóm Neonicotinoid tác động chọn lọc lên thụ thể thần kinh. Các khái niệm then chốt được lượng hóa gồm: nồng độ chất ô nhiễm hữu cơ vi lượng trong pha bụi, liều lượng phơi nhiễm hàng ngày qua đường hô hấp (tính bằng mg/kg/ngày) và chỉ số nguy hại sức khỏe với ngưỡng an toàn quy ước nhỏ hơn 1.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu tiến hành thu thập tổng cộng 13 mẫu bụi không khí thực tế, bao gồm 6 mẫu ban ngày và 7 mẫu ban đêm trong mùa khô tại khu vực Làng bún Phú Đô, quận Nam Từ Liêm. Vị trí đặt thiết bị ở độ cao 8 mét trên nóc tòa nhà dân cư nhằm đảm bảo tính đại diện cho môi trường sống xung quanh. Thiết bị lấy mẫu thể tích lớn Kimoto Model 120-H của Nhật Bản được vận hành liên tục với lưu lượng hút ổn định 800 lít/phút trong thời gian 10 giờ cho mỗi mẫu. Bụi được giữ lại trên màng lọc sợi thạch anh kích thước 200 x 220 mm, đã được hoạt hóa và ổn định trong bình hút ẩm 48 giờ để xác định khối lượng chính xác trước và sau khi lấy mẫu trên cân phân tích độ nhạy 0,1 mg.

Quy trình chiết tách áp dụng kỹ thuật siêu âm 3 lần liên tiếp với dung môi methanol (thể tích lần lượt là 20 ml, 15 ml, 15 ml), cô quay chân không và thổi khô làm giàu bằng dòng khí nitơ tinh khiết đến thể tích 0,2 ml trước khi thêm nội chuẩn. Phân tích định tính và định lượng được thực hiện trên hệ thống sắc ký lỏng ghép khối phổ tứ cực thời gian bay siêu phân giải ở chế độ thu thập độc lập dữ liệu tuần tự. Phương pháp này được lựa chọn vì khả năng quét đồng thời toàn bộ dải khối lượng từ 50 đến 1000 Da, loại bỏ hoàn toàn nhiễu nền phức tạp từ nền mẫu bụi đô thị. Giới hạn phát hiện của phương pháp đạt độ nhạy cực cao từ 0,3 đến 60 pg/m3, hiệu suất thu hồi chất chuẩn đạt từ 64,5% đến 95,7% với độ lệch chuẩn tương đối luôn duy trì dưới 12%.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực nghiệm đã xác định được 17 trên tổng số 107 hóa chất diệt côn trùng mục tiêu tồn tại trong các mẫu bụi không khí tại khu vực nghiên cứu. Đáng chú ý, có 14 hoạt chất lần đầu tiên được ghi nhận sự hiện diện trong pha bụi khí quyển tại Việt Nam cũng như trên thế giới, tiêu biểu như propargite, imidacloprid, omethoate, spirodiclofen, cyromazine và pyridaben.

Tần suất phát hiện đạt mức tuyệt đối 100% trong toàn bộ 13 mẫu đối với 3 hoạt chất: carbofuran, propargite và trichlorfon. Ba hoạt chất khác gồm fenobucarb, imidacloprid và omethoate xuất hiện với tần suất rất cao lên tới 92,3% (12 trên 13 mẫu). Tổng nồng độ các hóa chất diệt côn trùng trong pha bụi dao động mạnh từ 0,46 đến 26,8 ng/m3. Trong đó, nồng độ cực đại của một số chất ghi nhận ở mức rất cao: trichlorfon đạt 13.220 pg/m3, fenobucarb đạt 9.598 pg/m3, propargite đạt 8.577 pg/m3, cyromazine đạt 5.056 pg/m3 và imidacloprid đạt 2.117 pg/m3.

Sự phân hóa nồng độ theo chu kỳ ngày - đêm thể hiện rõ rệt: tổng nồng độ hóa chất trong mẫu bụi ban đêm dao động từ 6.270 đến 26.800 pg/m3 (trung bình đạt 15.500 pg/m3), cao gấp 5,8 lần so với nồng độ trung bình ban ngày là 2.660 pg/m3 (dao động từ 1.340 đến 4.340 pg/m3). Giá trị nồng độ thấp nhất ghi nhận vào ban đêm vẫn cao hơn 1,4 lần so với giá trị nồng độ cao nhất của ban ngày.

So sánh nồng độ trung bình HCDCT giữa Ban ngày và Ban đêm:
Ban đêm : ████████████████████████████████ 15.500 pg/m3
Ban ngày: █████ 2.660 pg/m3

Thảo luận kết quả

Dữ liệu thực nghiệm khi biểu diễn qua các đồ thị phân bố nồng độ phản ánh mối tương quan trực tiếp giữa hoạt động dân sinh, công tác y tế dự phòng và điều kiện khí tượng đô thị. Nguyên nhân chính dẫn đến sự gia tăng đột biến của hóa chất diệt côn trùng vào ban đêm là do hoạt động phun hóa chất dập dịch sốt xuất huyết tại các cụm dân cư thường được triển khai tập trung trong khung giờ từ 18:00 đến 22:30. Đồng thời, vào ban đêm, hiện tượng nghịch nhiệt bức xạ làm giảm chiều cao lớp biên khí quyển, kết hợp với vận tốc gió thấp (chỉ từ 0,10 đến 0,74 m/s) khiến các hạt bụi mang hóa chất bị giữ lại ở tầng sát mặt đất. Ngược lại, nhiệt độ ban ngày cao (27,4 - 31,6°C) và bức xạ tử ngoại mạnh đã thúc đẩy quá trình quang phân và khuếch tán đối lưu, làm suy giảm nồng độ hóa chất trong không khí.

Đáng lưu ý, hai hoạt chất carbofuran và trichlorfon dù đã bị loại khỏi Danh mục thuốc bảo vệ thực vật được phép sử dụng tại Việt Nam theo Quyết định số 4154/QĐ-BNN-BVTV từ năm 2017, nhưng vẫn xuất hiện với tần suất tuyệt đối 100%. Điều này minh chứng cho tính tồn lưu môi trường kéo dài của các hợp chất này hoặc sự tồn tại của nguồn phát thải chưa được kiểm soát triệt để trong khu vực. Đánh giá sơ bộ phơi nhiễm hô hấp cho thấy trẻ em có tỷ lệ hít thở trên thể trọng (10,1 m3/ngày cho 15 kg) cao hơn người lớn (16 m3/ngày cho 60 kg), do đó chịu liều lượng tiếp xúc hóa chất trên mỗi đơn vị cân nặng cao hơn, đòi hỏi sự quan tâm đặc biệt về mặt dịch tễ học.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tăng cường kiểm tra và thanh tra thị trường hóa chất: Cục Bảo vệ Thực vật phối hợp với Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ Thực vật Hà Nội tiến hành rà soát 100% các cơ sở kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật trên địa bàn các quận nội thành và ven đô. Mục tiêu loại bỏ hoàn toàn việc buôn bán và sử dụng các hoạt chất cấm có độc tính cao như trichlorfon và carbofuran, phấn đấu đạt tỷ lệ 0% mẫu vi phạm lưu thông trên thị trường trước quý IV năm 2022.

Thứ hai, bổ sung quy chuẩn kỹ thuật quan trắc môi trường không khí: Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng các viện nghiên cứu chuyên ngành cần xây dựng bộ tiêu chuẩn kỹ thuật bổ sung, đưa chỉ tiêu giám sát các hóa chất diệt côn trùng phổ biến (như nhóm neonicotinoid, pyrethroid, carbamate) vào Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng không khí xung quanh trong lộ trình đến năm 2024, thiết lập ngưỡng trần an toàn đối với các hợp chất hữu cơ vi lượng trong pha bụi dưới mức 1 ng/m3.

Thứ ba, chuẩn hóa quy trình phun hóa chất diệt muỗi y tế dự phòng: Trung tâm Kiểm soát Bệnh tật Hà Nội (CDC) và Trung tâm Y tế quận Nam Từ Liêm cần tối ưu hóa kỹ thuật phun sương mù nhiệt và ULV trong công tác phòng chống sốt xuất huyết. Cần giới hạn thời gian phun trong khung giờ cố định từ 19:00 đến 21:00, thông báo trước 24 giờ cho người dân che chắn không gian sống, đồng thời sử dụng đúng danh mục hóa chất khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới nhằm giảm thiểu 30% lượng phát tán dư thừa ra môi trường không khí trong giai đoạn 2022-2023.

Thứ tư, mở rộng mạng lưới trạm quan trắc tự động và đánh giá độc học: Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội chủ trì thiết lập hệ thống lấy mẫu bụi chuyên sâu định kỳ tại các quận có mật độ dân số cao trên 15.000 người/km2. Ứng dụng kỹ thuật sắc ký khối phổ tiên tiến để theo dõi diễn biến phát thải theo mùa, xây dựng bản đồ số cảnh báo nguy cơ phơi nhiễm hóa chất cho cộng đồng trước năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhà nghiên cứu và học viên cao học ngành Kỹ thuật Môi trường, Hóa học Phân tích: Nắm vững quy trình xử lý mẫu màng lọc bụi thạch anh và phương pháp vận hành kỹ thuật sắc ký lỏng khối phổ phân giải cao để định lượng đồng thời hàng trăm hợp chất hữu cơ vi lượng với độ nhạy đạt mức picogram.

Cán bộ quản lý tại các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường: Tiếp cận cơ sở dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác về hiện trạng ô nhiễm 17 hoạt chất diệt côn trùng trong không khí đô thị để tham mưu chính sách kiểm soát hóa chất nhập khẩu và sửa đổi các quy chuẩn chất lượng không khí quốc gia.

Chuyên gia Y tế Công cộng và Dịch tễ học: Khai thác mô hình tính toán liều lượng phơi nhiễm qua đường hô hấp và chỉ số rủi ro sức khỏe nhằm đánh giá tác động của các đợt phun phòng dịch sốt xuất huyết, từ đó tối ưu hóa kế hoạch bảo vệ sức khỏe cho nhóm đối tượng nhạy cảm như trẻ em và người cao tuổi.

Kỹ sư công nghệ môi trường và Doanh nghiệp sản xuất thiết bị lọc khí: Sử dụng dữ liệu về đặc tính lý hóa và cơ chế hấp phụ của hóa chất diệt côn trùng trên bụi để nghiên cứu, cải tiến các màng lọc không khí chuyên dụng có khả năng hấp phụ chọn lọc các hợp chất hữu cơ vi ô nhiễm, nâng cao hiệu suất xử lý lên trên 95%.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao nồng độ hóa chất diệt côn trùng trong bụi ban đêm lại cao hơn ban ngày? Kết quả quan trắc ghi nhận nồng độ trung bình ban đêm đạt 15.500 pg/m3, cao gấp 5,8 lần ban ngày (2.660 pg/m3). Sự chênh lệch này do hoạt động phun hóa chất phòng chống sốt xuất huyết chủ yếu diễn ra từ 18:00 đến 22:30. Đồng thời, ban đêm thiếu bức xạ mặt trời để quang phân hóa chất, kết hợp vận tốc gió thấp (0,10 - 0,74 m/s) làm hạn chế sự khuếch tán.

Những hóa chất diệt côn trùng nào được phát hiện nhiều nhất trong không khí? Ba hoạt chất gồm carbofuran, propargite và trichlorfon xuất hiện trong toàn bộ 100% mẫu khảo sát. Ngoài ra, fenobucarb, imidacloprid và omethoate cũng đạt tần suất phát hiện 92,3%. Trong đó, trichlorfon và fenobucarb ghi nhận nồng độ cao nhất, lần lượt đạt 13.220 pg/m3 và 9.598 pg/m3 trong các đợt quan trắc ban đêm.

Tại sao các hóa chất đã bị cấm như trichlorfon và carbofuran vẫn xuất hiện trong mẫu bụi? Mặc dù bị cấm lưu hành tại Việt Nam từ năm 2017 theo Quyết định 4154/QĐ-BNN-BVTV, carbofuran và trichlorfon vẫn có tần suất phát hiện 100%. Nguyên nhân do các hợp chất này có cấu trúc bền vững, khả năng tồn lưu lâu dài trong đất và môi trường, hoặc vẫn bị sử dụng trái phép từ các nguồn tồn dư trôi nổi chưa được kiểm soát.

Phương pháp phân tích được áp dụng trong luận văn có ưu điểm gì vượt trội? Nghiên cứu ứng dụng hệ thống sắc ký lỏng khối phổ tứ cực thời gian bay siêu phân giải với chế độ thu nhận dữ liệu tuần tự. Kỹ thuật này cho phép quét toàn diện mọi ion phân mảnh mà không bị hiện tượng bỏ sót các pic nhỏ, đạt giới hạn phát hiện cực thấp từ 0,3 đến 60 pg/m3 và độ thu hồi vượt 95%.

Trẻ em hay người lớn có nguy cơ chịu tác động sức khỏe cao hơn khi phơi nhiễm bụi chứa hóa chất? Trẻ em có mức độ nhạy cảm và rủi ro phơi nhiễm cao hơn. Theo tính toán sinh học, tỷ lệ hít thở của trẻ em là 10,1 m3/ngày trên khối lượng cơ thể 15 kg, tạo ra suất liều hấp thụ hóa chất trên mỗi kilogram thể trọng cao hơn đáng kể so với người lớn (16 m3/ngày cho 60 kg thể trọng).

Kết luận

  • Đã phát hiện và định lượng thành công 17 trên tổng số 107 hóa chất diệt côn trùng trong bụi không khí tại quận Nam Từ Liêm với tổng nồng độ dao động từ 0,46 đến 26,8 ng/m3.
  • Đóng góp dữ liệu khoa học mới khi lần đầu tiên công bố sự hiện diện của 14 hoạt chất diệt côn trùng trong pha bụi khí quyển tại Việt Nam và trên thế giới.
  • Chứng minh rõ nét quy luật phân hóa nồng độ theo thời gian với mức tích tụ ban đêm (15.500 pg/m3) cao gấp 5,8 lần ban ngày (2.660 pg/m3) dưới tác động của hoạt động phun phòng dịch và nghịch nhiệt.
  • Cảnh báo thực trạng tồn lưu môi trường nghiêm trọng của các hóa chất đã bị cấm như trichlorfon và carbofuran với tần suất phát hiện đạt 100%.
  • Thiết lập quy trình phân tích độ nhạy cao trên thiết bị khối phổ siêu phân giải đạt giới hạn phát hiện siêu vết 0,3 - 60 pg/m3.

Luận văn là công trình khoa học có giá trị thực tiễn cao, cung cấp cơ sở dữ liệu nền tảng cho việc kiểm soát ô nhiễm không khí và đánh giá độc học môi trường. Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng mạng lưới lấy mẫu đa điểm theo các mùa trong vòng 12-24 tháng tới. Các cơ quan quản lý và nhà khoa học cần chung tay hành động để hoàn thiện chính sách giám sát hóa chất, bảo vệ chất lượng môi trường sống và sức khỏe cộng đồng!