Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về vốn kinh doanh và phân tích hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh. Chương 2: Phân tích thực trạng về hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần tư vấn phát triển hạ tầng IDC Chương 3: Các kết luận và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại Công ty Cổ phần tư vấn phát triển hạ tầng IDC SVTH: Ngô Thị Huyền 4 Lớp: K48D1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại Học Thương Mại CHUƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VỐN KINH DOANH VÀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH 1.Cơ sở lý luận về vốn kinh doanh 1.1 Khái niệm và đặc điểm vốn kinh doanh. Khái niệm vốn kinh doanh Một doanh nghiệp muốn hoạt động sản xuất kinh doanh được thì điều kiện trước tiên là họ phải có một lượng vốn tiền tệ nhất định để thực hiện những khoản đầu tư ban đầu như: xây dựng nhà xưởng, mua sắm thiết bị, nguyên vật liệu, trả công,. để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng của doanh nghiệp.
Người ta gọi chung các loại vốn tiền tệ đó là vốn sản xuất kinh doanh. Theo giáo trình phân tích kinh tế doanh nghiệp thương mại của trường Đại học Thương Mại: “Nguồn vốn kinh doanh là nguồn vốn được huy động để trang trải các khoản chi phí mua sắm tài sản sử dụng cho hoạt đông kinh doanh”. Theo khía cạnh khác vốn kinh doanh là biểu hiện của toàn bộ tài sản của doanh nghiệp bỏ ra cho hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh lời, vốn kinh doanh được hình thành từ hai nguồn vốn cơ bản là vốn chủ sở hữu và nợ phải trả. Đặc điểm của vốn kinh doanh - Vốn kinh doanh là một quỹ tiền tệ đặc biệt của doanh nghiệp có trước khi diễn ra hoạt động sản xuất kinh doanh - Vốn kinh doanh phải được biểu hiện bằng một lượng giá trị tài sản cụ thể.
- Vốn biểu hiện toàn bộ giá trị của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, là lượng giá trị thực của tài sản hữu hình và vô hình. - Vốn phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định mới có thể phát huy được tác dụng. Các nhà quản lý cần phải khai thác mọi tiềm năng của vốn mà còn phải cân nhắc, tính toán, chọn lựa nguồn huy động vốn hiệu quả để đảm bảo yêu cầu sản xuất kinh doanh và nâng cao hiệu quả sử dụng của đồng vốn. - Mỗi đồng vốn phải gắn với một chủ sở hữu nhất định.
Nếu tồn tại những đồng vốn vô chủ bị coi là chi tiêu lãng phí, thất thoát và kém hiệu quả. - Tiền chi là tiềm năng là trạng thái ban đầu của đồng vốn. Để trở thành vốn thì tiền phải được đem đi đầu tư, sản xuất kinh doanh và sinh lời. Đồng thời vốn không ngừng được bảo toàn, bổ sung và phát triển để thực hiện việc tái sản xuất.
SVTH: Ngô Thị Huyền 5 Lớp: K48D1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại Học Thương Mại 1. Phân loại vốn kinh doanh Căn cứ vào phạm vi: Vốn trong sản xuất kinh doanh và vốn ngoài sản xuất kinh doanh - Vốn trong sản xuất kinh doanh nhằm phục vụ các nhu cầu nhiệm vụ kinh doanh thường xuyên của doanh nghiệp. - Vốn ngoài sản xuất kinh doanh nhằm đảm bảo cho các nghiệp vụ ngoài kinh doanh mang tính chất bất bình thường. Căn cứ theo thời gian luân chuyển vốn thì vốn kinh doanh gồm nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời.
- Nguồn vốn thường xuyên là các nguồn vốn có tính chất ổn định mà doanh nghiệp có thể sử dụng vào hoạt động kinh doanh. Nguồn vốn này thường được sử dụng để mua sắm, hình thành tài sản cố định và một bộ phận tài sản lưu động thường xuyên cần thiết cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. - Nguồn vốn tạm thời là các nguồn vốn ngắn hạn (dưới 1 năm) doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các nhu cầu có tính chất tạm thời phát sinh trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn tạm thời thường bao gồm vốn vay ngắn hạn của ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các nợ ngắn hạn khác.
Căn cứ vào nguồn hình thành vốn bao gồm: vốn chủ sở hữu và vốn huy động của doanh nghiệp. - Vốn chủ sở hữu là số vốn thuộc sở hữu của doanh nghiệp, doanh nghiệp được sử dụng lâu dài trong suốt thời gian hoạt động, bao gồm vốn chủ sở hữu bỏ ra và vốn phần bổ sung từ kết quả kinh doanh. - Vốn huy động của doanh nghiệp bao gồm các khoản vay ngắn hạn và dài hạn, các khoản phải trả phải nộp khác nhưng chưa đến kỳ hạn trả, phải nộp như phải trả người bán, phải trả công nhân viên, phải trả khách hàng, phải trả ngắn hạn, dài hạn,. Căn cứ theo phương thức luân chuyển vốn được chia thành hai loại: vốn cố định và vốn lưu động.
- Vốn cố định: là biểu hiện bằng tiền của các tài sản cố định bao gồm toàn bộ những tư liệu lao động có hình thái vật chất cụ thể có tiêu chuẩn giá trị và thời gian quy định. SVTH: Ngô Thị Huyền 6 Lớp: K48D1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại Học Thương Mại - Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động và vốn lưu thông. Ngoài ra còn có căn cứ theo hình thái biểu hiện vốn kinh doanh chia thành vốn hữu hình và vốn vô hình. Vai trò của vốn kinh doanh trong doanh nghiệp Vốn là yếu tố khởi đầu, bắt nguồn của mọi hoạt động kinh doanh, nó tồn tại và đi liền xuyên suốt giúp cho các doanh nghiệp hình thành và phát triển.
Vốn của các doanh nghiệp có vai trò quyết định, là điều kiện tiên quyết quan trọng nhất cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của từng loại doanh nghiệp theo luật định. Vốn là yếu tố quyết định mức độ trang thiết bị kỹ thuật, quyết định việc đổi mới công nghệ, hiện đại hoá dây chuyền sản xuất, ứng dụng thành tựu mới của khoa học và phát triển sản xuất kinh doanh. Đây là một trong những yếu tố quyết định đến sự thành công và đi lên của doanh nghiệp. Trong nền kinh tế hiện nay vốn có vai trò rất quan trọng đối với mọi doanh nghiệp lớn hay nhỏ khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh.
Vốn kinh doanh là công cụ để đánh giá, phản ánh và kiểm tra quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Tóm lại, vai trò của vốn kinh doanh là rất cần thiết. Chính vì thế mà bằng mọi cách doanh nghiệp phải đảm bảo có đủ vốn kinh doanh và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đó 1. Các chỉ tiêu đánh giá mức độ độc lập tài chính Hệ số tài trợ Hệ số tài trợ là chỉ tiêu phản ánh khả năng tự bảo đảm tài chính và mức độ độc lập tài chính của doanh nghiệp.
Chỉ tiêu này cho biết trong tổng số nguồn vốn tài trợ tài sản của doanh nghiệp, nguồn vốn chủ sở hữu chiếm mấy phần. Trị số của chỉ tiêu càng lớn, chứng tỏ khả năng tự bảo đảm tài chính càng cao, mức độ độc lập về mặt tài chính càng tang và ngược lại, trị số của các chỉ tiêu càng nhỏ khả năng tự đảm bảo tài chính của doanh nghiệp càng thấp, mức độ độc lập tài chính của donh nghiệp càng giảm. Hệ số tài trợ được xác định theo công thức: Tỷ suất tự tài trợ = Vốn chủ sở hữu / Tổng số nguồn vốn Hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn Hệ số tự tài trợ tài sản dài hạn ( hay hệ số vốn chủ sở hữu trên tài sản dài hạn) là SVTH: Ngô Thị Huyền 7 Lớp: K48D1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại Học Thương Mại chỉ tiêu phản ánh khả năng trang trải tài sản ngắn hạn bằng vốn chủ sở hữu. Chỉ tiêu này được xác định như sau: Tỷ suất tự tài trợ TSDH = Vốn chủ sở hữu / Tài sản dài hạn Hệ số tự tài trợ tài sản cố định Hệ số tự tài trợ tài sản cố định ( hay hệ số vốn chủ sở hữu trên tài sản cố định) là chỉ tiêu phản ánh khả năng đáp ứng bộ phận tài sản cố định ( đã và đang đầu tư) bằng vốn chủ sở hữu.
Chỉ tiêu này được xác định như sau: Tỷ suất tự tài trợ TSCĐ = Vốn chủ sở hữu / TSCĐ đã và đang đầu tư 1. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng thanh toán( Ktq) Hệ số khả năng thanh toán tổng quát Hệ số khả năng thanh toán tổng quát là chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán của doanh nghiệp trong kì báo cáo. Chỉ tiêu này cho biết: với tổng tài sản hiện có của doanh nghiệp có đảm bảo trang trải các khoản nợ phải trả hay không Hệ số khả năng thanh Tổng tài sản = toán tổng quát Tổng nợ phải trả Hệ số khả năng thanh toán tổng quát càng lớn thì càng tốt. Có các mức độ: Ktq > 2: Tốt Ktq = 1,5 -> 2: Bình thường chấp nhận Ktq = 1 -> 1.5: Khó khăn Ktq < 1 : Rất khó khăn Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn là chỉ tiêu cho thấy khả năng đáp ứng các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp là cao hay thấp.
Nợ ngắn hạn là những khoản nợ mà doanh nghiệp phải thanh toán trong vong 1 năm hoặc một kì kinh doanh. Về mặt lý thuyết thì chỉ tiêu này ≥ 1 doanh nghiệp có đủ khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn và tình hình tài chính là bình thường hay khả quan. Ngược lại nếu hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn < 1 doanh nghiệp không đảm bảo dáp ứng được các khoản nợ ngắn hạn. Trị số của chỉ tiêu này càng < 1 thì khả năng thanh toán nợ của doanh nghiệp càng thấp SVTH: Ngô Thị Huyền 8 Lớp: K48D1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Khóa luận tốt nghiệp Trường Đại Học Thương Mại Hệ số khả năng thanh Tài sản ngắn hạn = toán nợ ngắn hạn Tổng số nợ ngắn hạn Hệ số khả năng thanh toán nhanh Chỉ tiêu này cho biết với giá trị còn lại của tài sản ngắn hạn( sau khi loại trừ giá trị hàng tồn kho là bộ phận có khả năng chuyển đổi thành tiền chậm nhất trong toàn bộ tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp), doanh nghiệp có khả năng trang trải toàn bộ nợ ngắn hạn hay không.