CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VỐN KINH DOANH VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH. Những vấn đề lí luận cơ bản về vốn kinh doanh và phân tích hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh. Một số khái niệm cơ bản về vốn Khái niệm cơ bản về vốn kinh doanh Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh doanh nghiệp nào cũng cần có một lượng vốn nhất định. Vốn là điều kiện tiên quyết của quá trình hoạt động và phát triển của doanh nghiệp.
Theo “ Gíao trình phân tích kinh tế DNTM- Trường Đại học thương mại. XB năm 2008 do PGS.TS Trần Thế Dũng chủ biên, trang 189” thì: Vốn kinh doanh là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ giá trị tài sản của DN tính bằng tiền, là yếu tố vật chất tạo tiền đề cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh.Nói cách khác, vốn kinh doanh của doanh nghiệp là loại quỹ tiền tệ đặc biệt phục vụ cho các hoạt động kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp. Theo cách tiếp cận trên thì vốn kinh doanh phải có trước khi diễn ra các hoạt động kinh doanh. Nói cách khác, vốn kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ số tiền đầu tư ứng trước cho kinh doanh của doanh nghiệp đó.
Với yêu cầu mục tiêu về hiệu quả hoạt động, số vốn ứng trước ban đầu cho kinh doanh sẽ phải thường xuyên vận động và chuyển hoá hình thái biểu hiện từ tiền tệ sang các tài sản khác và ngược lại. Do đó, nếu xét tại một thời điểm nhất định thì vốn kinh doanh không chỉ là vốn bằng tiền mà còn là các hình thái tài sản khác. Cho nên, có thể hiểu vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. VKD = Vốn cố định + Vốn lưu động Khái niệm về vốn cố định( VCĐ): VCĐ của DN là biểu hiện bằng tiền của giá trị các tài sản có thời gian sử dụng, thu hồi và luân chuyển giá trị từ một năm trở lên hoặc tham gia vào nhiều chu kỳ kinhdoanh của DN( giáo trình phân tích kinh tế DNTM- Trường Đại học Thương Mại.
XB năm 2008 do PGS.TS Trần Thế Dũng chủ biên) SVTH: Bùi Thị Lý 7 Khóa Luận Tốt Nghiệp Luan van GVHD: ThS. Hoàng Thị Tâm Trường Đại Học Thương Mại Khái niệm vốn lưu động( VLĐ): VLĐ là biểu hiện bằng tiền của giá trị các tài sản có thời gian sử dụng, thu hồi và luân chuyển giá trị trong vòng một năm hoặc một chu kỳ kinh doanh của DN( Trang 164 giáo trình phân tích kinh tế DNTM- Trường Đại học Thương Mại. XB năm 2008 do PGS.TS Trần Thế Dũng chủ biên) Khái niệm tài sản cố định(TSCĐ): TSCĐ là những tư liệu lao động chủ yếu, có giá trị lớn, có thời gian sử dụng dài, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh của DN. Theo QĐ206/QĐ- BTC: một TS được coi là TSCĐ nếu thỏa mãn đồng thời các điều kiện sau: - Có gía trị từ 10 trđ trở lên.
- Có thời gian sử dụng từ một năm trở lên. - Nguyên giá TSCĐ phải được xác định một cách đáng tin cậy. - Chắc chắn mang lại lợi ích trong tương lai. -Khái niệm doanh thu( DT): Theo giáo trình phân tích kinh tế DNTM- Trường Đại học Thương Mại.
XB năm 2008 do PGS.TS Trần Thế Dũng chủ biên, trang 41 thì: DT bán hàng của một doanh nghiệp là một chỉ tiêu kinh tế phản ánh trị giá hàng hóa, thành phẩm, dịch vụ đã được xác định là tiêu thụ trong kỳ. Khái niệm hiệu quả kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh: Theo“ giáo trình phân tích kinh tế DNTM- Trường Đại học Thương Mại. XB năm 2008 do PGS.TS Trần Thế Dũng chủ biên, trang 187” thì: Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế khách quan phản ánh các lợi ích kinh tế - xã hội đạt được từ các quá trình hoạt động kinh doanh. Hiệu quả kinh doanh bao gồm hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội trong đó hiệu quả kinh tế có vai trò, ý nghĩa quyết định.
Hiệu quả kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân lực, vật lực của DN để đạt được kết quả kinh tế cao nhất với chi phí thấp nhất. Hiệu quả kinh tế phản ánh mối quan hệ so sánh giữa kết quả kinh tế đạt được với các chi phí mà DN sử dụng trong đó có sử dụng hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh. Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh là những chỉ tiêu kinh tế phản ánh mối quan hệ so sánh giữa kết quả hoạt động kinh doanh với các chỉ tiêu vốn kinh doanh mà doanh nghiệp sử dụng trong kỳ kinh doanh. SVTH: Bùi Thị Lý 8 Khóa Luận Tốt Nghiệp Luan van GVHD: ThS.
Hoàng Thị Tâm Trường Đại Học Thương Mại. Phân loại vốn kinh doanh Căn cứ vào phương thức, đặc điểm khác nhau chúng ta có thể phân loại khác nhau, do vậy sử dụng vốn thế nào cho hiệu quả thì cần phải dựa vào cách phân loại của chúng. a) Căn cứ vào phương thức luân chuyển, vốn được chia làm hai loại: vốn cố định và vốn lưu động. - Vốn cố định: VCĐ của DN là lượng giá trị ứng trước vào tài sản cố định hiện có và đầu tư tài chính dài hạn của DN, mà đặc điểm của nó là luân chuyển từng bộ phận giá trị vào sản phẩm mới cho đến khi TSCĐ hếtthời hạn sử dụng thì VCĐ hoàn thành một vòng luân chuyển (hoàn thành một vòng tuần hoàn).
Vốn cố định được tách làm hai phần sau: + Một phần tương ứng với giá trị hao mòn được chuyển vào giá trị sản phẩm dưới hình thức chi phí khâu hao và được tích luỹ lại thành quỹ khấu hao sau khi sản phẩm hàng hoá được tiêu thụ. Quỹ khấu hao này dùng để tái sản xuất TSCĐ nhằm duy trì năng lực sản xuất của DN. + Phần còn lại của VCĐ được “cố định” trong hình thái hiện vật của tài sản cố định ngày càng giảm đi trong khi phần vốn luân chuyển càng tăng lên tương ứng với sự suy giảm dần giá trị sử dụng tài sản cố định. Kết thúc quá trình vận động đó cũng là lúc TSCĐ hết thời gian sử dụng và VCĐ cũng hoàn thành một vòng luân chuyển.
VCĐ là bộ phận quan trọng, đặc điểm luân chuyển của nó lại tuân theo quy luật riêng, do đó việc quản lý và sử dụng VCĐ có ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sản xuất kinh doanh. - Vốn lưu động: VLĐ của DN là lượng giá trị ứng trước về TSLĐ hiện có và đầu tư ngắn hạn của DN nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của DN được thường xuyên, liên tục. Là biểu hiện bằng tiền của TSLĐ nên đặc điểm vận động của VLĐ chịu sự chi phối bởi những đặc điểm của tài sản lưu động. Trong các DN người ta thường chia TSLĐ thành hai loại: tài sản lưu động sản xuất(TSLĐSX) và tài sản lưu động lưu thông(TSLĐLT).
- TSLĐSX bao gồm các loại nguyên nhiên vật liệu, phụ tùng thay thế, bán thành phẩm, sản phẩm dở dang. đang trong quá trình dự trữ sản xuất hoặc chế biến. SVTH: Bùi Thị Lý 9 Khóa Luận Tốt Nghiệp Luan van GVHD: ThS. Hoàng Thị Tâm Trường Đại Học Thương Mại - TSLĐLT bao gồm các sản phẩm thành phẩm chờ tiêu thụ, các loại vốn bằng tiền, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản chi phí chờ kết chuyển, chi phí trả trước.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn lưu động di chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kì SXKD. Đây chính là bộ phận tài sản dùng để hình thành tài sản ngắn hạn của DN. b) Căn cứ vào nguồn hình thành vốn, vốn có thể được chia thành: nguồn vốn chủ sở hữu và nợ phải trả - Vốn chủ sở hữu :VCSH là phần vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, chi phối và định đoạt. Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau mà vốn chủ sở hữu có nội dung cụ thể riêng như: vốn đầu tư từ ngân sách Nhà nước, vốn do chủ doanh nghiệp bỏ ra, vốn góp cổ phần.
VCSH được xác định là phần vốn còn lại trong tài sản của doanh nghiệp sau khi trừ đi toàn bộ nợ phải trả. - Nợ phải trả: Là khoản nợ phát sinh trong quá trình kinh doanh mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải thanh toán cho các tác nhân kinh tế. Đó là số tiền vốn mà doanh nghiệp đi vay, chiếm dụng của các đơn vị, tổ chức, cá nhân như: vốn vay của ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính khác, vốn vay thông qua phát hành trái phiếu, các khoản nợ khách hàng chưa thanh toán. Việc huy động nguồn vốn này rất quan trọng đối với DN để đảm bảo cung ứng đầy đủ, kịp thời cho sản xuất kinh doanh.Sức ép về việc hoàn trả vốn vay và lãi vay sẽ thúc đẩy DN sử dụng tiết kiệm và hiệu quả nguồn vốn.
Tuy nhiên việc phụ thuộc vào nguồn vốn vay sẽ khiến cho DN tốn kém về thời gian, chi phí nếu không tính toán cẩn thận thì HQKD và LN của DN sẽ bị ảnh hưởng bởi lãi suất tiền vay. c) Căn cứ vào thời gian huy động và sử dụng vốn có thể phân chia nguồn vốn doanh nghiệp thành hai loại: Nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời. - Nguồn vốn thường xuyên Là nguồn vốn từ một năm trở lên bao gồm nguồn VCSH và các khoản vay dài hạn. Đây là nguồn vốn có tính chất ổn định mà DN có thể sử dụng dành cho việc mua sắm TSCĐ và một bộ phận TSLĐ thường xuyên cần thiết cho HĐKD của DN.
SVTH: Bùi Thị Lý 10 Khóa Luận Tốt Nghiệp Luan van GVHD: ThS. Hoàng Thị Tâm Trường Đại Học Thương Mại - Nguồn vốn tạm thời Đây là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (ít hơn một năm) mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng các nhu cầu có tính chất tạm thời, bất thường phát sinh trong HĐSXKD của DN. Nguồn vốn này bao gồm các khoản vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng cùng các khoản nợ khác. Việc phân loại nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời giúp cho người quản lý xem xét huy động các nguồn vốn một cách hợp lý với thời gian sử dụng, đáp ứng đầy đủ, kịp thời vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh và nâng cao HQSD vốn của DN.