CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN KINH DOANH VÀ PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH 1. Những vấn đề cơ bản về vốn kinh doanh và phân tích hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh 1. Một số khái niệm cơ bản về vốn kih doanh và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh 1. Khái niệm vốn kinh doanh Vốn có vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.
Có rất nhiều quan niệm khác nhau về vốn: Theo quan điểm của Mác: Vốn (tư bản) là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là đầu vào của quá trình sản xuất. Định nghĩa của Mác về vốn có tầm khái quát lớn vì nó bao hàm đầy đủ bản chất và vai trò của vốn. Bản chất của vốn là giá trị, mặc dù nó được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: tài sản cố định, nguyên vật liệu, tiền công. Nếu căn cứ vào vai trò của vốn đối với quá trình kinh doanh, chúng ta có thể hiểu: Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là toàn bộ lượng tiền cần thiết để bắt đầu và duy trì các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Hay có thể nói: Vốn kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của giá trị toàn bộ tài sản hiện có của doanh nghiệp. (Nguồn trích dẫn: Giáo trình tài chính doanh nghiệp thương mại – PGS.TS Đinh Văn Sơn – Đại Học Thương Mại, NXB Thống kê, 2007) Theo David Begg, trong cuốn “Kinh tế học” Ông đã đưa ra hai định nghĩa về vốn là: vốn hiện vật và vốn tài chính của doanh nghiệp. Vốn hiện vật là dự trữ các hàng hóa đã sản xuất ra để sản xuất các hàng hóa khác. Vốn tài chính là các giấy tờ có giá trị và tiền mặt của doanh nghiệp.
(Nguồn trích dẫn: Sách kinh tế học – Nhà Xuất bản thống kê năm 2007 – do nhóm giảng viên ĐH KTQD dịch từ tác giả David Beeg.) Nhìn chung, các nhà kinh tế đã thống nhất ở điểm chung cơ bản: Vốn là yếu tố đầu vào cơ bản của quá trình sản xuất kinh doanh, được sử dụng để sản xuất ra hàng hoá và dịch vụ cung cấp cho thị trường. Như vậy, vốn của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ vật tư, tài sản, được đầu tư vào sản xuất kinh doanh. Chính vì vậy vốn là một loại hàng hoá đặc biệt. SVTH: Vũ Thị Minh Nguyệt 6 MSV: 11F150576 Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS.
Tạ Quang Bình 1. Khái niệm về hiệu quả kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh a. Hiệu quả kinh doanh Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế khách quan phản ánh các lợi ích kinh tế - xã hội đạt được từ quá trình hoạt động kinh doanh. Hiệu quả kinh doanh bao gồm: hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội, trong đó hiệu quả kinh tế có vai trò, ý nghĩa quyết định.
+ Hiệu quả xã hội phản ánh những lợi ích mà các hoạt động kinh doanh của DN đóng góp cho xã hội như: cung ứng hàng hóa thỏa mãn nhu cầu xã hội, góp phần cân đối cung cầu, ổn định giá cả thị trường, là việc giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, bảo vệ môi trường, tăng thu nhập quốc dân,…. + Hiệu quả kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân lực, vật lực để đạt được kết quả kinh tế cao nhất với chi phí thấp nhất. Nâng cao hiệu quả kinh doanh có ý nghĩa rất quan trọng với DN, là điều kiện để DN mở rộng sản xuất kinh doanh, tăng lợi nhuận và sức cạnh tranh trên thị trường. Để nâng cao hiệu quả kinh doanh đòi hỏi DN phải quản lý và sử dụng có hiệu quả các yếu tố của quá trình hoạt động kinh doanh, trong đó có hiệu quả sử dụng vốn.
Hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh Hiệu quả sử dụng VKD là những chỉ tiêu kinh tế phản ánh mối quan hệ so sánh giữa kết quả hoạt động kinh doanh với các chỉ tiêu VKD mà DN sử dụng trong kỳ kinh doanh. Hay nói cách khác hiệu quả sử dụng vốn của DN là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ khai thác, sử dụng và quản lý nguồn vốn làm cho đồng vốn sinh lời tối đa nhằm mục tiêu cuối cùng của DN là tối đa hóa giá trị tài sản của vốn chủ sở hữu. Hiệu quả sử dụng VKD được xác định bằng công thức sau: Kết quả đầu ra Hiệu quả sử dụng = —————————— vốn kinh doanh Các yếu tố đầu vào SVTH: Vũ Thị Minh Nguyệt 7 MSV: 11F150576 Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Tạ Quang Bình Trong đó: Kết quả đầu ra: doanh thu, lợi nhuận Các yếu tố đầu vào: VKD, VKD bình quân, chi phí, TSCĐ Theo giáo trình phân tích kinh tế DN do TS.Nguyễn Năng Phúc biên soạn thì: Hiệu quả sử dụng vốn là chỉ tiêu phản ánh kết quả tổng hợp nhất của quá trình sử dụng các loại vốn.
Đó chính là sự tối thiểu hóa số vốn cần sử dụng và tối đa hóa kết quả trong một giới hạn về nguồn nhân tài vật lực phù hợp với hiệu quả kinh tế nói chung. Một số vấn đề lý thuyết liên quan 1. Phân loại vốn kinh doanh a. Căn cứ vào thời gian luân chuyển của vốn Phân loại theo tiêu thức này thì VKD bao gồm: vốn cố định và vốn lưu động.
Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của tài sản dài hạn. Kết cấu VCĐ gồm: giá trị của TSCĐ, bất động sản đầu tư, đầu tư tài chính dài hạn, tài sản dài hạn khác. Đây là bộ phận vốn góp phần tạo ra những cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết sử dụng trong dài hạn cho DN. VCĐ có đặc điểm là thời gian luân chuyển kéo dài từ một năm trở lên.
Sự luân chuyển này phụ thuộc vào chính quá trình khai thác, sử dụng và bảo quản các tài sản dài hạn cũng như các chính sách tài chính có liên quan của DN. Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động. Đây là bộ phận vốn góp phần tạo ra những yếu tố tài sản ngắn hạn phục vụ thường xuyên cho kinh doanh của DN. Vốn lưu động có đặc điểm là thời hạn luân chuyển thường là trong vòng một năm hay một chu kỳ kinh doanh của DN.
Sự luân chuyển này phụ thuộc vào quá trình khai thác, sử dụng và bảo quản từng bộ phận tài sản ngắn hạn cũng như các chính sách tài chính có liên quan của DN. (Nguồn trích dẫn: Giáo trình tài chính doanh nghiệp thương mại – PGS.TS Đinh Văn Sơn - Đại Học Thương Mại, NXB Thống kê, 2007) b. Căn cứ vào nguồn hình thành của vốn Theo cách phân loại này thì VKD gồm: nợ phải trả và vốn chủ sở hữu. Nợ phải trả là nguồn VKD được huy động từ các DN, các tổ chức và cá nhân ngoài chủ sở hữu mà DN có trách nhiệm phải trả.
SVTH: Vũ Thị Minh Nguyệt 8 MSV: 11F150576 Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Tạ Quang Bình Vốn chủ sở hữu là nguồn VKD được đầu tư từ các chủ DN. Nguồn vốn chủ sở hữu DN hoàn toàn có quyền chủ động sử dụng vào mục đích kinh doanh, không phải thanh toán, hoàn trả như nguồn vốn nợ phải trả (trừ khi có quyết định rút vốn của chủ sở hữu). (Nguồn trích dẫn: Giáo trình phân tích kinh tế DNTM – PGS.TS Trần Thế Dũng – Trường Đại học Thương Mại – xuất bản 2008) c.
Căn cứ vào thời gian huy động vốn Theo cách phân loại này thì nguồn vốn của DN bao gồm: nguồn vốn thường xuyên và nguồn vốn tạm thời. Nguồn vốn thường xuyên gồm vốn chủ sở hữu và các khoản vay dài hạn. Đây là nguồn vốn mang tính ổn định và dài hạn mà DN có thể sử dụng để đầu tư mua sắm TSCĐ và một bộ phận tài sản lưu động thường xuyên cần thiết cho hoạt động sản xuất kinh doanh của DN. Nguồn vốn tạm thời là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn mà DN có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu vốn có tính chất tạm thời, phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của DN, gồm: các khoản vay ngắn hạn ngân hàng và các tổ chức tín dụng, các khoản nợ ngắn hạn khác.
(Nguồn trích dẫn: Giáo trình tài chính doanh nghiệp thương mại – PGS.TS Đinh Văn Sơn - Đại Học Thương Mại, NXB Thống kê, 2007) 1. Vai trò và ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh a. Vai trò của vốn kinh doanh Vốn là yếu tố khởi đầu, bắt nguồn của mọi hoạt động kinh doanh, nó tồn tại và đi liền xuyên suốt giúp cho các doanh nghiệp hình thành và phát triển. Vốn của các doanh nghiệp có vai trò quyết định, là điều kiện tiên quyết quan trọng nhất cho sự ra đời, tồn tại và phát triển của từng loại doanh nghiệp theo luật định.
Vốn là yếu tố quyết định mức độ trang thiết bị kỹ thuật, quyết định việc đổi mới công nghệ, hiện đại hoá dây chuyền sản xuất, ứng dụng thành tựu mới của khoa học và phát triển sản xuất kinh doanh. Đây là một trong những yếu tố quyết định đến sự thành công và đi lên của doanh nghiệp. SVTH: Vũ Thị Minh Nguyệt 9 MSV: 11F150576 Luan van Khóa luận tốt nghiệp GVHD: TS. Tạ Quang Bình Vốn còn là một trong những điều kiện để sử dụng các nguồn tiềm năng hiện có và tiềm năng tương lai về sức lao động, nguồn hàng hoá, mở rộng và phát triển thị trường, mở rộng lưu thông hàng hoá, là điều kiện để phát triển kinh doanh, thực hiện các chiến lược, sách lược kinh doanh, là chất keo để nối chắp, dính kết các quá trình và quan hệ kinh tế, là dầu bôi trơn cho cỗ máy kinh tế hoạt động.
Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nói chung và VKD nói riêng là hết sức cần thiết và có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi DN. Nâng cao hiệu quả sử dụng VKD để thực hiện tối đa hoá lợi nhuận. Bởi mục tiêu lợi nhuận là mục tiêu hướng tới của bất kỳ DN nào. Đặc biệt, trong nền kinh tế thị trường hiện nay, khi tạo ra lợi nhuận nhiều thì DN mới có thể tồn tại và phát triển được.
Có nhiều biện pháp để tăng lợi nhuận cho DN. Nhưng trong điều kiện nền kinh tế hiện nay, tình trạng thiếu vốn xảy ra phổ biến, huy dộng vốn gặp nhiều khó khăn. Bên cạnh đó thị trường lại cạnh tranh gay gắt. Như vậy nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là vấn đề rất quan trọng để nâng cao lợi nhuận cho DN.