Chương 1. Cơ sở lý luận chung về vốn và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại doanh nghiệp Chương 2. Phân tích thực trạng hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh của CTCP Công Nghệ - Viễn thông ELCOM. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại CTCP Công Nghệ - Viễn thông ELCOM.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN KINH DOANH TẠI DOANH NGHIỆP 1. Những vấn đề lý luận cơ bản về vốn kinh doanh và hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh tại DN 1. Khái niệm và đặc điểm vốn kinh doanh của doanh nghiệp Vốn kinh doanh được xem là yếu tố tiên quyết và quan trọng trong quá trình vận hành sản xuất kinh doanh. Một phần của vốn kinh doanh được trích ra để chi trả cho những yếu tố đầu vào như nhân công, nguyên vật liệu để phục vụ cho hoạt động sản xuất.
Một doanh nghiệp muốn vận hành được doanh nghiệp của mình thì trước tiên phải có được một số vốn nhất định. Số vốn này biểu thị cho số tài sản mà doanh nghiệp hiện có. Vốn kinh doanh luôn luôn vận động, nó có thể tồn tại dưới các dạng như tiền hoặc tài sản như các máy móc, thiết bị,… Và sau cùng thì nó lại trở về dưới dạng tiền tệ. Vốn có thể sẽ tăng lên hoặc giảm xuống tùy thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Vậy nên, vốn kinh doanh được thể hiện dưới dạng tiền tệ bao gồm cả số tài sản được sử dụng để phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh với mục đích là thu lợi nhuận. Như vậy, có thể nói: “Vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ giá trị tài sản được huy động, sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời”. (Nguồn: Nguyễn Đình Kiệm, Bạch Đức Hiển (2008), Giáo trình Tài chính doanh nghiệp, NXB Tài chính) Theo tài liệu từ Dân Kinh Tế (2022), thì đặc trưng của Vốn kinh doanh bao gồm như sau: Thứ nhất, vốn đại diện cho một lượng giá trị tài sản thực nhất định, có nghĩ là vốn biểu hiện bằng giá trị tài sản như: máy móc thiết bị, nhà xưởng, đất đai,… Thứ hai, vốn phải được tích tụ và tập trung đến một lượng nhất định mới có thể phát hy được tác dụng, do đó các doanh nghiệp phải tìm cách thu hút nguồn vốn như phát hành cổ phiếu, góp vốn, liên doanh. Thứ ba, vốn được vận động sinh lời, tiền tệ được xem là vốn chỉ khi nó hoạt động và vận hành nhằm mục đích sinh lời.
Thứ tư, vốn có giá trị về mặt thời gian cần xem xét yếu tố thời gian của đồng vốn vì “đồng tiền có giá trị về mặt thời gian, đồng tiền ngày nay khác với đồng tiền 3 ngày mai”. Vì thê, việc huy động vốn và sử dụng vốn kịp thời là hết sức quan trọng đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp. Thứ năm, vốn phải gắn với chủ sở hữu. Trong nền kinh tế thị trường, vốn luôn phải gắn liền với chủ sở hữu.
Đồng vốn vô chủ sẽ dẫn đến việc sử dụng vốn lãng phí, kém hiệu quả. Ngược lại, những đồng vốn gắn liền với chủ sở hữu, gắn với lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu thì được sử dụng đúng mục đích, sử dụng tiết kiệm có hiệu quả và sinh lời. Thứ sáu, vốn không chỉ biểu hiện bằng tiền của những tài sản hữu hình mà còn được biểu hiện bằng những tài sản vô hình như: bản quyền phát minh sáng chế, thương hiệu, bí quyết công nghệ,. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, sự tiến bộ của khoa học công nghệ, những tài sản vô hình ngày càng giữ vai trò quan trọng, tạo khả năng sinh lời cho doanh nghiệp.
Thứ bảy, Vốn được coi như một loại hàng hóa đặc biệt Những người có vốn nhàn rỗi sẽ đưa vốn vào thị trường, còn những người cần vốn sẽ tìm đến nguồn vốn đó để mua “Quyền sử dụng vốn” và trả cho người bán một lượng tiền tệ nhất định đuợc gọi là “chi phí sử dụng vốn”. Như vậy, khác với các hàng hóa thông thường, vốn khi “bán ra” sẽ không bị mất đi quyền sở hữu mà chỉ mất đi quyền sử dụng, người mua được quyền sử dụng vốn trong một thời gian nhất định. Đây là đặc trưng quan trọng giúp cho các doanh nghiệp có phương thức huy động vốn linh hoạt trong nền kinh tế thị trường. Phân loại vốn kinh doanh của doanh nghiệp Vốn kinh doanh của doanh nghiệp có nhiều loại, để phục vụ cho yêu cầu quản lý, sử dụng vốn kinh doanh tiết kiệm và có hiệu quả người ra thường phân loại chúng theo các tiêu thức khác nhau.
Căn cứ vào đặc điểm luân chuyển của vốn thì vốn kinh doanh được chia thành hai bộ phận: vốn cố định và vốn lưu động. Vốn cố định (VCĐ) Trong nền kinh tế thị trường, để có được các tài sản cố định cần thiết cho hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp cần phải đầu tư ứng ra một lượng vốn tiền tệ nhất định. Số vốn ma doanh nghiệp ứng ra hình thành tài sản cố định được gọi là vốn cố định của doanh nghiệp. “VCĐ của doanh nghiệp là bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định.
Đặc điểm của nó là chu chuyển giá trị dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ kinh doanh và hoàn thành một vòng chu chuyển khi tái sản xuất tài sản cố định về mặt giá trị”. 4 (Nguồn: Nguyễn Đình Kiệm, Bạch Đức Hiển (2008) Giáo trình Tài chính doanh nghiệp. NXB Tài chính). Đặc điểm chu chuyển VCĐ + VCĐ dịch chuyển từng phần giá trị của mình vào giá trị sản phẩm trong các chu kỳ kinh doanh.
Khi tham gia vào quá trình sản xuất, một bộ phận VCĐ được luân chuyển và cấu thành chi phí sản xuất sản phẩm (dưới hình thức chi phí khấu hao) tương ứng với phần giá trị hao mòn của TSCĐ + VCĐ tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh và chỉ hoàn thành một vòng luân chuyển sau nhiều chu kỳ. Điều này do đặc điểm của TSCĐ là thời gian sử dụng lâu dài và tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh. + Sau nhiều chu kỳ sản xuất, VCĐ mới hoàn thành một vòng chu chuyển. Sau mỗi chu kỳ sản xuất, phần vốn được chu chuyển vào giá trị sản phẩm dần dần tăng lên song phần vốn đầu tư ban đầu vào TSCĐ lại giảm xuống cho đến khi TSCĐ hết thời gian sử dụng, giá trị của nó được chuyển dịch hết vào giá trị sản phẩm thì VCĐ mới hoàn thành một vòng chu chuyển.
Vốn lưu động (VLĐ) Để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, bên cạnh TSCĐ doanh nghiệp còn phải có một lượng tài sản lưu động (TSLĐ) nhất định. Để hình thành nên các TSLĐ, doanh nghiệp phải ứng trước một số vốn tiền tệ nhất định đầu tư vào các tài sản đó. Số vốn này được gọi là VLĐ của doanh nghiệp. “VLĐ của doanh nghiệp là số vốn ứng ra để hình thành nên các TSLĐ nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh của doanh nghiệp đƣợc thực hiện thƣờng xuyên, liên tục.
VLĐ luân chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và thu hồi toàn bộ, hoàn thành một vòng luân chuyển khi kết thúc một chu kỳ kinh doanh”. (Nguồn: Nguyễn Đình Kiệm, Bạch Đức Hiển (2008), Giáo trình Tài chính doanh nghiệp. NXB Tài chính). VLĐ có hình thức biểu hiện là các TSLĐ.
TSLĐ của doanh nghiệp được chia thành hai loại: TSLĐ sản xuất và TSLĐ lưu thông. + TSLĐ sản xuất: bao gồm những vật tư dự trữ để đảm bảo cho quá trình sản xuất được liên tục như nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu…và những sản phẩm đang trong quá trình sản xuất như sản phẩm dở dang, bán thành phẩm… + TSLĐ lưu thông: là những TSLĐ nằm trong quá trình lưu thông của doanh nghiệp như thành phẩm nằm trong kho chờ tiêu thụ, vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán… 5 Đặc điểm luân chuyển của VLĐ Trong quá trình tham gia vào hoạt động kinh doanh, do bị chi phối bởi các đặc điểm của TSLĐ nên VLĐ của doanh nghiệp có các đặc điểm sau: + VLĐ trong quá trình chu chuyển luôn thay đổi hình thái biểu hiện. Đối với doanh nghiệp sản xuất, hình thái biểu hiện của VLĐ là tiền - vật tư dự trữ, sản phẩm dở dang - thành phẩm hàng hoá - tiền. Đối với doanh nghiệp thương mại, VLĐ có hình thái biểu hiện là tiền - hàng - tiền.
Doanh nghiệp cần nắm rõ các hình thái biểu hiện này để có biện pháp quản lý VLĐ. + VLĐ chuyển toàn bộ giá trị ngay trong một lần và được hoàn lại toàn bộ sau mỗi chu kỳ kinh doanh. Đây là điểm khác biệt cơ bản giữa VLĐ và VCĐ. + VLĐ hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ kinh doanh.
Đặc điểm này cho thấy kết thúc một chu kỳ kinh doanh cũng là lúc VLĐ trở lại hình thái tiền tệ ban đầu. Phân loại VLĐ: Dựa vào hình thái biểu hiện của vốn: gồm 2 loại + Vốn bằng tiền và các khoản phải thu: phần VLĐ này không được thể hiện dưới một lượng vật chất cụ thể mà chỉ biểu hiện dưới dạng nguồn lực. Đây là phần VLĐ có tính thanh khoản cao mà doanh nghiệp cần có trong quá trình hoạt động kinh doanh. + Vốn về hàng tồn kho: được biểu hiện dưới hình thái vật chất cụ thể, bao gồm: vốn vật tư dự trữ, vốn sản phẩm dở dang, vốn thành phẩm.
Đây là bộ phận VLĐ có tính thanh khoản không cao do đó các doanh nghiệp cần có kế hoạch dự trữ hàng tồn kho hợp lý. - Dựa vào vai trò của VLĐ đối với quá trình sản xuất kinh doanh: + VLĐ trong khâu dự trữ sản xuất, bao gồm: vốn nguyên, vật liệu chính; vốn vật liệu phụ; vốn nhiên liệu; vốn phụ tùng thay thế; vốn vật đóng gói, vốn công cụ dụng cụ nhỏ. + VLĐ trong khâu trực tiếp sản xuất, bao gồm: vốn sản phẩm đang chế tạo; vốn về chi phí trả trước. + VLĐ trong khâu lưu thông, bao gồm: vốn thành phẩm; vốn bằng tiền; vốn trong thanh toán, các khoản đầu tư ngắn hạn về chứng khoán, cho vay ngắn hạn… Mỗi cách phân loại trên đều đạt được yêu cầu nhất định trong công tác quản lý và sử dụng VLĐ.
Nó giúp doanh nghiệp xác định đúng trọng điểm và biện pháp quản lý, sử dụng VLĐ hiệu quả hơn, phù hợp với điều kiện cụ thể của từng doanh nghiệp. 6 Tóm lại, từ đặc điểm của VCĐ và VLĐ đòi hỏi công tác quản lý vốn của doanh nghiệp phải được quan tâm.