CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẦU TƯ CÔNG 1. Cơ sở lý thuyết về đầu tư công 1. Khái niệm đầu tư công 1. Quan niệm của thế giới Quan niệm và định nghĩa đầu tư công trên thế giới vẫn chưa có sự thống nhất và đang còn nhiều tranh luận.
Tuy nhiên phần lớn các nước có quan điểm tương tự với Hệ thống tài khoản quốc gia của Liên hợp quốc (UN) và Sổ tay thống kê tài chính Chính phủ của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF). Theo đó, đầu tư công về cơ bản đề cập đến hoạt động đầu tư của Chính phủ vào tài sản có thời gian sử dụng từ một năm trở lên, đầu tư công cũng bao gồm hoạt động đầu tư nâng cấp hay phục hồi các tài sản vật chất mà cho phép gia tăng thời gian sử dụng của tài sản. Chẳng hạn, đầu tư xây dựng các tài sản hữu hình như đường sá, cầu cảng, trường học, bệnh viện… hay đầu tư vào các tài sản vô hình như giáo dục, y tế và nghiên cứu. Đầu tư công theo thông lệ quốc tế bao gồm các lĩnh vực: - Đầu tư tài sản cố định (đang tồn tại), đầu tư tài sản cố định mới; - Đầu tư tài sản tài chính; - Bổ sung cho ngân sách địa phương và hỗ trợ doanh nghiệp nhà nước; - Trả nợ.
Tùy theo quan niệm của từng quốc gia mà đầu tư công có thể bao gồm các chương trình dự án chỉ thuần túy mục đích công ích hoặc các chương trình dự án phục vụ cả mục đích kinh doanh (qua DNNN).Quan niệm của Việt Nam Theo Luật đầu tư công được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành năm 2014, đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. 5 Đầu tư công là đầu tư của khu vực Nhà nước bao gồm các lĩnh vực: - Đầu tư chương trình, dự án kết cấu hạ tầng kinh - tế xã hội; - Đầu tư phục vụ hoạt động của cơ quan nhà nước, các đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị xã hội; - Đầu tư và hỗ trợ hoạt động cung cấp dịch vụ, sản phẩm công ích; - Đầu tư của Nhà nước tham gia thực hiện dự án theo hình thức đối tác công tư. Như vậy, theo quan niệm của Việt Nam thì đầu tư công vừa phục vụ mục đích công ích vừa nhằm mục đích kinh doanh. Quan niệm của Việt Nam về đầu tư công nhìn chung là hẹp hơn so với thông lệ quốc tế, do chi trả nợ ở Việt Nam không được tính vào đầu tư công trong khi đó chi trả nợ là một bộ phận thống kê chi đầu tư công theo thông lệ quốc tế.
Mục tiêu của đầu tư công Đầu tư công là một trong những công cụ điều hành của Nhà nước góp phần mang lại phúc lợi chung cho toàn xã hội. Các chương trình dự án đầu tư công ở Việt Nam nói riêng và các nước đang phát triển nói chung đều hướng tới mục tiêu: - Xây dựng, củng cố và nâng cao năng lực phục vụ của hệ thống hạ tầng kinh tế - xã hội nhằm tạo điều kiện cho sản xuất kinh doanh trong và ngoài nước; nâng cao đời sống nhân dân; thúc đẩy phát triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa; - Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhà nước tham gia đầu tư trong một số lĩnh vực phục vụ công ích mà các thành phần kinh tế khác không có khả năng hoặc không muốn đầu tư; - Góp phần thực hiện một số mục tiêu xã hội trong chiến lược phát triển bền vững của quốc gia, của ngành, của vùng và các địa phương. Chẳng hạn như mục tiêu nâng cao dân trí, tăng cường phúc lợi xã hội, cải thiện môi trường sinh thái, hỗ trợ các chương trình phòng chống tệ nạn xã hội và các chương trình phát triển khác như chương trình bảo vệ động vật quý hiếm; Chương trình phổ cập giáo dục, đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực; Chương trình xóa đói giảm nghèo v. Thông qua 6 các chương trình mục tiêu quốc gia, nhiều vấn đề về xã hội, văn hóa, môi trường được giải quyết.
Mục tiêu phát triển bền vững được đảm bảo; - Điều tiết thị trường thông qua việc tác động trực tiếp đến tổng cầu của nền kinh tế. Mở rộng đầu tư công chính là tăng chi ngân sách cho đầu tư phát triển, do đó, nếu Chính phủ muốn kích cầu có thể thông qua mở rộng đầu tư công, còn nếu Chính phủ muốn duy trì tăng trưởng ở mức cao và bền vững, đảm bảo cân đối vĩ mô thì cần phải cắt giảm các dự án đầu tư công không cần thiết, tránh bị dàn trải, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công hợp lí. Cơ cấu vốn đầu tư công 1.Cơ cấu vốn đầu tư công theo nguồn vốn Vốn nhà nước trong đầu tư công gồm có: - Vốn ngân sách Nhà nước: là vốn đầu tư cho các dự án, công trình (bao gồm vốn ngân sách trung ương và địa phương, các tập đoàn kinh tế, Tổng Công ty Nhà nước 90, 91 và các doanh nghiệp Nhà nước khác); - Vốn huy động của Nhà nước từ trái phiếu Chính phủ, trái phiếu chính quyền địa phương, công trái quốc gia: là trái phiếu do Chính phủ, chính quyền địa phương phát hành nhằm mục đích bù đắp thâm hụt ngân sách, tài trợ cho các công trình công ích, hoặc làm công ích hoặc làm công cụ điều tiết tiền tệ; - Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài: là nguồn vốn được hình thành từ hoạt động hợp tác phát triển giữa Chính phủ Việt Nam với các nhà tài trợ là Chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương và các tổ chức liên quốc gia hoặc liên Chính phủ; - Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước: là những dự án đầu tư mà chủ đầu tư có thể vay hưởng lãi suất ưu đãi để đầu tư vào một số ngành, lĩnh vực quan trọng, chương trình kinh tế lớn có hiệu quả kinh tế - xã hội, có khả năng hoàn trả vốn vay; - Vốn vay khác: bao gồm vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước, các khoản vay vốn khác của ngân sách địa phương để đầu tư. Cơ cấu vốn đầu tư công theo phân cấp quản lý Vốn đầu tư công được phân theo cấp quản lý từ trung ương đến địa phương.
- Vốn đầu tư công do trung ương quản lý giữ vai trò chủ đạo, bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ chiến lược, quan trọng của quốc gia như: các dự án đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, các chương trình dự án quốc gia, các chính sách xã hội quan trọng… - Vốn đầu tư công do địa phương quản lý thực hiện việc đầu tư vào các chương trình dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trong phạm vi quản lý. Cơ cấu vốn đầu tư công theo ngành kinh tế Vốn đầu tư công được chia theo các ngành kinh tế trong hệ thống ngành kinh tế Việt Nam (VSIC), bao gồm: - Nông, lâm nghiệp và thủy sản; - Khai khoáng; - Công nghiệp chế biến, chế tạo; - Sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí; - Cung cấp nước, hoạt động xử lí nước thải, rác thải; - Xây dựng; - Bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác; - Vận tải, kho bãi; - Dịch vụ lưu trú và ăn uống; - Hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm; - Hoạt động kinh doanh bất động sản; - Hoạt động chuyên môn, khoa học và công nghệ; - Hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ; - Hoạt động của Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội, quản lý Nhà nước, an ninh quốc phòng, đảm bảo xã hội bắt buộc; - Giáo dục và đào tạo; 8 - Nghệ thuật vui chơi và giải trí; - Hoạt động khác 1. Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công 1.Khái niệm Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư (hệ số ICOR) là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh cần bao nhiêu đồng vốn đầu tư thực hiện tăng thêm để tăng một đồng tổng sản phẩm trong nước (GDP). Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công hay đầu tư của nhà nước (ICOR nn) phản ánh cần bao nhiêu vốn đầu tư công thực hiện tăng thêm để tăng một đồng GDP khu vực nhà nước Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư ngoài nhà nước (ICOR nnn) phản ánh cần bao nhiêu vốn đầu tư ngoài nhà nước thực hiện tăng thêm để tăng một đồng GDP khu vực ngoài nhà nước.
Hệ số ICOR thay đổi tùy theo thực trạng kinh tế - xã hội trong từng thời kì khác nhau, phụ thuộc vào cơ cấu đầu tư và hiệu quả sử dụng đồng vốn. Nếu hệ số ICOR thấp chứng tỏ đầu tư có hiệu quả cao và ngược lại, hệ số ICOR cao chứng tỏ đầu tư kém hiệu quả. Mục đích và ý nghĩa Hệ số ICOR là một trong những chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn đầu tư để tăng trưởng kinh tế. Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư là một trong những cơ sở để rà soát và sửa đổi mục tiêu đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả về chất lượng sử dụng vốn đầu tư.
Hệ số ICOR tính cho một giai đoạn sẽ phản ánh chính xác hơn việc tính ICOR cho hàng năm, vì trong một thời gian ngắn (1 năm) có một lượng đầu tư chưa phát huy tác dụng và cũng không phản ánh được nếu đầu tư dàn trải (hiệu quả không cao, dàn trải). Phương pháp tính Hệ số ICOR được tính theo công thức sau: ICOR = Kt /(GDPt – GDPt-1) ICORnn = Ktnn /(GDPt – GDPt-1) ICORnnn = Ktnnn /(GDPt – GDPt-1) 9 Trong đó: - ICOR là hiệu quả sử dụng vốn đầu tư; - k là tổng số vốn đầu tư; - gdp là tổng sản phẩm trong nước; - t là kì nghiên cứu; - t-1là kì trước kì nghiên cứu ; - nn là khu vực kinh tế nhà nước; - nnn là khu vực kinh tế ngoài nhà nước. Các chỉ tiêu về vốn đầu tư và sản lượng trong nước để tính hệ số ICOR phải được tính theo cùng một loại giá: giá thực tế hoặc giá so sánh.