Chương 1: Cơ sở lý luận về vốn và hiệu quả sử dụng vốn Chương 2: Thực trạng về vấn đề quản lý, sử dụng và hiệu quả sử dụng vốn tại công ty cổ phần xuất nhập khẩu than - Vinacomin Chương 3: Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại vông ty xuất nhập khâu than - Vinacomin CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE VON VÀ HIỆU QUA SỬ DUNG VON 1. Téng quan vé von trong doanh nghiép 1. Khai niém vé von trong doanh nghiép Hoạt động kinh doanh được coi là một quá trình phân phối va mục tiêu là thành lập ngân sách hay phân bé sử dụng ngân sách của doanh nghiệp, trong đó sẽ diễn ra sự thay đổi của các nguồn vốn, hình thành những dòng tiền tệ đi vào và đi ra của trong suốt quá trình kinh doanh. Không thể phủ nhận, vốn chiếm vai trò quan trong, cần phải có của quá trình SXKD.
Dé có thé trả lời câu hỏi “vốn là gì?”, hiện nay có những quan điểm khác nhau như: Theo quan điểm của Mác: “Vốn (tư bản) là giá trị đem lại giá trị thặng dư, là một đầu vào của quá trình sản xuất”. Đây là một trong khái niệm khá khái quát bởi sự bao quát toàn vẹn cả bản chất và vai trò của vốn, tuy nhiên khái niệm này mới chỉ dừng lại ở quy trình sản xuất vật chất mới mang lại giá trị thang dư.Samuelson - thuộc trường phái tân cổ điển, đưa ra quan niệm: “các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất được chia thành ba bộ phận gồm đất đai, lao động và vốn. Trong đó, vốn là các hàng hoá được sản xuất ra và được sử dụng hữu ích trong quá trình sản xuất sau đó”. Theo quan niệm của David Begg, người viết cuốc sách “Kinh tế học”: “Vốn gồm hai hình thái là vốn hiện vật và vốn tài chính.
Trong đó, vốn hiện vật là dự trữ các hàng hóa đã sản xuất mà sử dụng để sản xuất ra các hàng hóa khác; vốn tài chính là tiền và tài sản trên giấy của DN”. Nhìn chung 2 nhà kinh tế Samuelson và David Begg có cùng quan điểm “vốn là các yếu tố đầu vào phục vụ cho quá trình SXKD”. Ngoài ra các nhà kinh tế nước ta hiện nay cũng có những quan niệm vốn khác: “vốn hiểu theo nghĩa hẹp là tiềm lực về tài chính của mỗi cá nhân, mỗi DN và mỗi quốc gia, còn hiểu theo nghĩa rộng bao gồm nguồn nhân lực, nguồn tài lực, chất xám, tiền bạc đã tích lũy của mỗi cá nhân, một DN hay một quốc gia". Bat kỳ DNKD nao tiến hành hoạt động SXKD đều cần những yếu tố cơ bản như lao động, nguyên liệu,.vậy nên trước nhất là phải có được nguồn vốn nhất định.
Nguồn vốn nay DN sẽ dùng dé đầu tư thiết bị, mua sắm tai sản phục vụ cho hoạt động động sản xuất kinh doanh, ta gọi đây là vốn kinh doanh. Như vậy, vốn kinh doanh của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền toàn bộ tài sản được đầu tư vào hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Vậy nên, doanh nghiệp có thé trở nên ngày càng lớn mạnh hay không phụ thuộc vào vốn và hiệu qua sử dụng vốn dé đảm bảo quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Đặc điểm về vốn trong doanh nghiệp - Vốn là đại diện của một lượng giá tri tai sản thuộc sự quản lý và sử dụng của doanh nghiệp nhằm tạo ra sản phẩm tại một thời điểm nhất định.
Hay nói cách khác, vốn biểu hiện đưới giá trị của những tài sản hữu hình ( nhà máy; máy móc; thiết bị; hàng hóa; .) và tài sản vô hình (thông tin bảo mật; thương hiệu; bang sáng chế:.) - Vốn phải được vận động liên tục dé tạo ra lợi nhuận. Tiền tệ không tự nhiên trở thành vốn trước hết tiền tệ cần phải trong quá trình vận động, lưu thông tạo thành vòng tuần hoàn. Bên cạnh đó, vốn cần được đảm bảo, tăng số lượng, và sinh lời sau mỗi quá trình vận động đề thực hiện mục đích cuối cùng của DN là lợi nhận, gia tăng giá tri, phát trién DN. - Vén sé dan tăng lên và đạt đến một lượng nhất định mới có thé duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh và tạo lợi nhuận.
Do đó, doanh nghiệp không những biết tận dụng và khai thắc tiềm năng của vốn mà DN còn phải xác định được nhu cầu, chi phí và lượng vốn huy động cần thiết để lên kế hoạch huy động vốn đảm bảo phát triển bền vững cho DN. - Doanh nghiệp cần cân nhắc các yếu tô về thời hạn của nguồn vốn bởi những tác động của các yêu tô như: lạm phát, phát triển kỹ thuật. Ngày nay vốn được coi là một hàng hóa đặc biệt, không giống như những hàng hóa bình thường, vốn khi “ bán ra” sẽ bị mat di kha năng và người năm giữ có thé tận dụng vốn trong một khoảng thời gian nhất định. - Giá trị của vốn thay đổi theo thời gian bởi tiền có giá trị khác nhau ở các 10 thời điểm khác nhau.
Nguyên do ảnh hưởng: lạm phát, sự phát triển của khoa học- kỹ thuật,. vậy nên giá tri của vốn sẽ thay đôi tại mỗi thời điểm khác nhau. - Vốn được dùng cho việc đầu tư, đây là đặc trưng về mặt giá tri tai sản sử dụng cho đầu tư hoạt động SXKD. Đề vốn được sử dụng một cách hiệu quả thì vốn phải gắn liền và thuộc sự quản lý của chủ sở hữu nhất định mà vẫn có thể nhượng quyền sử dụng vốn nhằm giúp xác định phương hướng cho doanh nghiệp.
Vai trò của vốn trong doanh nghiệp Ngày nay, vốn kinh doanh ngảy cảng quan trọng đối với nền kinh tế Việt nam khi xu hướng thị trường đang có nhiều sự thay đôi. Và có tác động lớn tới hoạt động SXKD của doanh nghiệp. Bởi nền kinh tế thị trường khiến cho các DN phải liên tục cải tiến và hiện đại hóa các trang thiết bị để nâng cao chất lượng sản phẩm và cạnh trang được trên thị trường, điều này khang định DN cần phải có đủ lượng vốn nhất định. Vốn kinh doanh giúp doanh nghiệp duy trì được hoạt động sản xuất kinh doanh.
Vậy nên vốn là yếu tố tiên quyết, nếu không có vốn thì doanh nghiệp không thê hoạt động. Tùy thuộc nguồn vốn của DN mà xác định hình thức sở hữu vốn và tên gọi của doanh nghiệp: công ty cổ phan; công ty trách nhiệm hữu hạn; doanh nghiệp tư nhan;. Vốn kinh doanh có thé được coi là một tiêu thức đánh giá quy mô của doanh nghiệp, phân loại những doanh nghiệp lớn, nhỏ hay trung bình. Vốn còn là công cụ dé doanh nghiệp kiểm tra tình hình sản SXKD bang các chỉ tiêu tài chính: hiệu qua sử dụng vốn; hệ số thanh toán; hệ số sinh lời; cơ cấu các nguồn vốn,.
từ đó nguồn lao động phải được tận dụng hiệu quả, chuỗi cung ứng vật liệu hàng hoá, mở rộng rộng quy mô và thị trường khách hàng. Vốn kinh doanh phải luôn được đảm bảo sau mỗi vòng hoạt động sản xuất kinh doanh. Vốn kinh doanh cho biết tình hình hoạt động sử dụng vốn như thế nào và vốn chỉ thực sự hiệu quả khi được tăng lên sau mỗi chu kỳ hoạt động. Nếu nguồn vốn không được phát triển hay còn bị hao hụt được gọi là hiện tượng mat vốn.
Hiện tượng này tạo ra những tốn thất cho doanh nghiệp, khiến doanh nghiệp mat kha 11 năng thanh toán và cuối cùng sẽ phia đối mặt trước sự phá sản. Phân loại vốn trong doanh nghiệp 1. Căn cứ theo kết quả của hoạt động đầu tư Với tiêu thức phân loại này, người ta chia vốn kinh doanh thành vốn kinh doanh dau tư vào TSLD, TSCD và tài sản tài chính của DN. - Vốn kinh doanh đầu tư vào TSLĐ: là khoản vốn được sử dụng dé đầu tư vào TSLD của doanh nghiệp, bao gồm: các khoản vốn bằng tiền, vốn vật tư hàng hóa, các khoản phải thu, các loại TSLĐ khác của DN.
- Vốn kinh doanh đầu tư vào TSCĐ: là khoản vốn được sử dụng dé đầu tư vào TSCĐ hữu hình và vô hình (nhà máy, trang thiết bị, xe tải, thiết bị truyền dẫn, văn phong,. - Vốn kinh doanh đầu tư vào tài sản tài chính (TSTC): là khoản vốn được doanh nghiệp sử dụng cho các hoạt động đầu tư vào TSTC (cổ phiếu; trái phiếu DN; trái phiếu Chính phủ; kỳ phiếu ngân hàng: chứng chỉ quỹ đầu tư và các giấy tờ có giá khác). Căn cứ theo vai trò và đặc điểm luân chuyển giá trị của vốn kinh doanh Với tiêu thức phân loại này, vốn kinh doanh của DN gồm hai loại: vốn có định và vốn lưu động. > Vốn cố định (VCD): là số vốn đầu tư được ứng trước dé mua sắm, xây dựng các TSCĐ.
Có thể khái quát đặc điểm của VCD về sự luân chuyên: VCD tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất mới hoàn thành một vòng tuần hoàn khi kết thúc thời hạn sử dụng của TSCD. Vốn cô định được biêu hiện dưới hình thái hiện vật và giá tri. - Biéu hién hién vat: La những tài sản được mua và dùng trong kinh doanh, bao gồm: văn phòng, nhà xưởng, máy móc,. - Biểu hiện giá trị: Là những TSCD chưa khấu hao và vốn khẩu hao đã hoàn thành chu kỳ kinh doanh và trở về hình thái tiền tệ.
Trong suốt chu trình của hoạt động kinh doanh, VCD chuyên đổi giá trị dần 12 dần từng lần và được thu hồi từng phần giá trị sau mỗi chu kỳ kinh doanh. Sau nhiều chu ky SXKD thì VCD mới hoàn thành một vòng luân chuyền. Dé kiểm soát được TSCD hay VCD một cách chặt chẽ, doanh nghiệp có thé phân loại theo các hình thức sau: - Căn cứ theo hình thái biểu hiện và đặc điểm đầu tư: Doanh nghiệp chia TSCD thành ba loại: TSCD hữu hình, TSCD vô hình, TSCĐ thuê tài chính. - Căn cứ theo nhu cầu sử dụng: Doanh nghiệp chia TSCĐ thành ba loại: mục đích hoạt động SXKD; mục đích dùng cho phúc lợi, sự nghiệp, quốc phòng — an ninh; giữ hộ Nhà nước.
- Căn cứ theo thực trạng sử dụng: : Doanh nghiệp chia TSCĐ thành ba loại: đang sử dụng; chưa đưa vào sử dùng; không sử dùng, cần thanh lý. - Căn cứ theo chức năng kinh tế: : Doanh nghiệp chia TSCD thành sáu loại: Nhà xưởng, văn phòng; trang thiết bị - máy móc; phương tiện vận tải, công cụ quản lý;. > Vốn lưu động (VLD): là số vốn đầu tư được ứng trước dé hình thành nên TSLĐ với mục đích đảm bảo ổn định cho hoạt động SXKD luôn được thực hiện liên tục. VLD của doanh nghiệp thường biểu hiện dưới dạng: tiền tệ, khoản đầu tư ngắn hạn, khoản phải thu, nguyên vật liệu và TSLĐ khác.