Chương 1: Giới thiệu Giới thiệu vấn đề cần nghiên cứu và chỉ ra tầm quan trọng, sự tác động và cần thiết của vấn đề cần nghiên cứu. Nội dung chính của phần này bao gồm mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và kết cấu của luận văn. Chương 2: Tổng quan tài liệu Chương này mô tả lý thuyết áp dụng trong nghiên cứu, lược khảo được các tài liệu có liên quan về cơ sở lý thuyết, ứng dụng lý thuyết và các phương pháp của các nghiên cứu trước liên quan đến vấn đề nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này mô tả chi tiết phương pháp thu thập và phương pháp xử lý số liệu.
Chương 4: Kết quả và thảo luận Nội dung chương 4 thể hiện chi tiết kết quả phân tích hiệu quả kỹ thuật trồng lúa ST24 trên nền đất nuôi tôm của nông hộ tại huyện U Minh, tỉnh Cà Mau. Từ đó, làm nổi bật mối quan hệ của kết quả đạt được của nghiên cứu với giả thuyết đã được đặt ra cho nghiên cứu. Chương 5: Kết luận và đề xuất Căn cứ vào các kết quả chính của nghiên cứu để đưa ra các kết luận trong mối liên hệ với mục tiêu của nghiên cứu. Trên cơ sở đó, đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kỹ thuật trong sản xuất lúa ST24 trên nền đất nuôi tôm tại huyện U Minh tỉnh Cà Mau trong thời gian tới.
3 CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU Phân tích hiệu quả kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước thực hiện nghiên cứu. Trong chương 2, đề tài sẽ tập trung vào lược khảo tổng quan các tài liệu đã nghiên cứu liên quan để làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu. Bên cạnh đó, đề tài cũng đề cập đến khái niệm về mô hình canh tác tôm lúa, cơ sở lý luận về hiệu quả sản xuất và hiệu quả kỹ thuật.1 Lược khảo tài liệu 2.1 Nghiên cứu trong nước Thông (2011) đã thực hiện nghiên cứu so sánh hiệu quả kỹ thuật của vụ lúa Hè Thu và Thu Đông ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Hiệu quả kỹ thuật trong nghiên cứu được ước lượng từ hàm sản xuất Cobb-Douglas, dựa trên số liệu sơ cấp được thu thập từ 479 nông hộ ở ĐBSCL.
Kết quả nghiên cứu cho thấy năng suất trung bình của các nông hộ trong vụ Hè Thu uà Thu Đông lần lượt là 4,7 và 4,3 tấn lúa/ha. Với cùng lượng đầu vào, năng suất vụ Hè Thu cao hơn vụ Thu Đông khoảng 6%. Mức hiệu quả kỹ thuật đạt được trong hai vụ lần lượt là 86% và 83%. Phần kém hiệu quả do chưa đạt hiệu quả tối đa gây thất thoát khoảng 770 kg lúa/ha trong vụ Hè Thu và 850 kg/ha trong vụ Thu Đông.
Có sự chênh lệch lớn trong năng suất cũng như hiệu quả giữa các nông hộ do kỹ thuật không đồng bộ. Theo kết quả ước lượng của hàm sản xuất trong mô hình nghiên cứu, các yếu tố sản xuất có ảnh hưởng đến năng suất là lượng giống, phân đạm, phân kali và lao động gia đình trái với kỳ vọng. Sự gia tăng các đầu vào này có thể làm giảm năng suất. Đặng (2017) đã sử dụng hàm sản xuất biên Cobb- Douglas kết hợp với hàm phi hiệu quả kỹ thuật để xác định ảnh hưởng của kỹ thuật sản xuất đến hiệu quả kỹ thuật của các hộ trồng lúa tại tỉnh Trà Vinh.
Trong nghiên cứu này, số liệu được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp 196 hộ dân trồng lúa tại 2 huyện của tỉnh Trà Vinh là Cầu Kè và Tiểu Cần. Mỗi huyện thu thập khoảng 100 hộ trồng lúa bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên. Nghiên cứu đã sử dụng phương pháp ước lượng một bước được đề xuất bởi Coelli et al. Trong đó hàm sản xuất và hàm phi hiệu quả kỹ thuật với các biện độc lập liên quan đến việc ứng lượng đồng thời bằng frontiner 4.
Kết quả phân tích cho thấy, hiệu quả kỹ thuật chung của các nhóm hộ dao động trong khoảng 58,46%- 99,25%; trung bình là 85,91%; các hộ có ứng dụng kỹ thuật như: sạ hàng hoặc sử dụng giống xác nhận hoặc áp dụng biện pháp “3 giảm – 3 tăng” có hiệu quả kỹ thuật cao hơn các hộ không ứng dụng. Bên cạnh đó, trình độ học vấn, tham gia hiệp hội tại địa phương, tập huấn kỹ thuật có tác động tích cực đến hiệu quả kỹ thuật của hộ nói chung. Ngoài ra, Lợi (2017) cũng đã thực hiện nghiên cứu xác định hiệu quả kỹ thuật và các yếu tố quyết định đến năng suất và hiệu quả kỹ thuật của các hộ trồng lúa ở thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế. Nghiên cứu sử dụng số liệu bảng trong hai vụ lúa năm 4 2015 của 120 hộ được lựa chọn bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng.
Hàm sản xuất biên ngẫu nhiên và phầm mềm Frontier 4.1 cũng được sử dụng trong nghiên cứu. Hiệu quả kỹ thuật của hộ dao động từ 0,66 đến 1, trung bình đạt 0,795 và không có sự khác biệt về năng suất và hiệu quả kỹ thuật trung bình giữa 2 vụ lúa. Lượng phân kali, công lao động và nước có tác động tích cực đến năng suất lúa trong khi đó lượng lúa giống, thuốc BVTV có ảnh hưởng trái chiều. Kết quả phân tích hàm phi hiệu quả kỹ thuật cho thấy các yếu tố như vị trí mảnh ruộng so với hệ thống thuỷ lợi, số lao động nông nghiệp và việc cung cấp nước đúng lịch là những yếu tố có tác động tích cực nhất tới hiệu quả kỹ thuật trồng lúa.
Trí và ctv., (2019) đã thực hiện nghiên cứu nhằm ước lượng mức hiệu quả kỹ thuật và những yếu tố ảnh hưởng đến nó đối với nông hộ trồng lúa tại huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ, dựa trên số liệu từ Điều tra giá thành sản xuất tại các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Cờ Đỏ theo hướng dẫn Thông tư liên tịch số 171/2010/TTLT-BTC- BNNPTNT. Số liệu được thu thập từ 360 hộ trong các vụ Đông Xuân, Hè Thu và Thu Đông từ năm 2014 – 2016. Kết quả ước lượng hàm sản xuất biên ngẫu nhiên Cobb- Douglas đồng thời với hàm phi hiệu quả dựa trên số liệu bảng cho thấy lượng lúa giống gieo sạ, lượng phân N và P nguyên chất, hoạt chất phòng trị bệnh, lao động thuê ngoài và chi phí làm đất có quan hệ đồng biến với tổng sản lượng lúa của nông hộ. Mức hiệu quả kỹ thuật trung bình của nông hộ là 68% và sự biến động hiệu quả tương đối lớn giữa các hộ.
Mức phi hiệu quả của nông hộ phụ thuộc vào diện tích canh tác, sử dụng giống xác nhận và đặc điểm của địa bàn sản xuất. Bên cạnh đó, Tuấn và Đặng (2019) đã thực hiện nghiên cứu ước lượng hiệu quả kỹ thuật và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật của hộ trồng lúa Jasmine tại huyện Châu Thành, tỉnh An Giang dựa vào bộ dữ liệu được thu thập từ 101 hộ trồng lúa Jasmine ở huyện Châu Thành, tỉnh An Giang. Hàm sản xuất biên Cobb – Douglas kết hợp với hàm phi hiệu quả kỹ thuật được sử dụng để phân tích bằng chương trình Frontier 4. Kết quả phân tích cho thấy, hiệu quả kỹ thuật trung bình của nông hộ trồng lúa Jasmine là 89,42%; với mức độ sử dụng các yếu tố đầu vào và kỹ thuật hiện có thì sản lượng của nông hộ còn có khả năng tăng thêm 10,58%.
Bên cạnh đó, các yếu tố như quy mô trồng lúa và số lao động nhà có ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả kỹ thuật của nông hộ. Ngược lại, thâm niên trồng lúa của chủ hộ và tập huấn kỹ thuật là yếu tố làm hạn chế khả năng cải thiện hiệu quả kỹ thuật của nông hộ.2 Nghiên cứu nước ngoài Kadiri et al., (2014) đã thực hiện nghiên cứu ước tính hiệu quả kỹ thuật của nông dân trồng lúa ở vùng đồng bằng sông Niger của Nigeria. Hiệu quả kỹ thuật được ước lượng từ hàm sản xuất biên ngẫu nhiên Cobb -Douglas. Dữ liệu trong nghiên cứu dựa trên số liệu thu thập từ 300 nông hộ bằng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng.
Kết quả ước lượng cho thấy hiệu quả kỹ thuật biến động trong khoảng 38,4 – 62,6% (trung bình là 62,6%). Mức độ hiệu quả kỹ thuật có sự chênh lệch giữa các nông hộ do 5 khoảng cách trình độ kỹ thuật trong sản xuất và khả năng lựa chọn đầu vào tối ưu của mỗi nông hộ. Các yếu tố có ảnh hưởng đến năng suất là: quy mô diện tích, chi phí giống đầu vào, chi phí lao động gia đình, chi phí lao động thuê, chi phí phân bón và chi phí thuốc diệt cỏ. Ngoài ra, các yếu tố quyết định hiệu quả kỹ thuật là: giới tính và quy mô nhân khẩu trong nông hộ.
Heriqbaldi (2015) đã thực hiện phân tích hiệu quả kỹ thuật và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật của các nông hộ trồng lúa tại 15 tỉnh của Indonesia. Nghiên cứu được ước lượng từ hàm sản xuất biên ngẫu nhiên Cobb-Douglas dựa trên cơ sở phỏng vấn trực tiếp 3.454 nông hộ trồng lúa tại 15 tỉnh của Indonesia. Kết quả phân tích cho thấy mức hiệu quả kỹ thuật trung bình của các nông hộ trồng lúa là 77,0%. Mức hiệu quả kỹ thuật cao nhất của các nông hộ trông lúa là 97,8% và thấp nhất là 33,8%.
Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật của các nông hộ trồng lúa là quy mô diện tích, thu nhập, tài trợ của chính phủ. Yếu tố gây ra sự phi hiệu quả kỹ thuật là độ tuổi. Kea et al., (2016) đã thực hiện nghiên cứu nhằm mục đích đo lường hiệu quả kỹ thuật và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật trong sản xuất lúa của nông hộ trồng lúa ở Campuchia. Dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu từ tài liệu “Báo cáo về kinh tế và xã hội” của 25 tỉnh tại Campuchia trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2015.
Hàm sản xuất biên ngẫu nhiên đã được áp dụng trong nghiên cứu. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, sản lượng sản xuất lúa của Campuchia sẽ thay đổi tùy theo mức độ đầu tư vào máy móc trong nông nghiệp. tổng diện tích thu hoạch lúa thực tế, kỹ thuật bón phân trong phạm vi các tỉnh. Hơn nữa, bằng chứng cho thấy hiệu quả trung bình tổng thể của sản xuất lúa là 78,4% có nghĩa là vẫn còn nhiều khả năng để nâng cao hơn nữa hiệu quả kỹ thuật do cùng mức độ đầu vào và công nghệ.