Chương 1: Giới thiệu tổng quan nghiên cứu: Chương này nêu lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu và kết cấu đề tài. Chương 2: Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu: Chương này trình bày cơ sở lý thuyết về những lý luận liên quan đến hiệu quả kinh doanh, các nghiên cứu trước đây và mô hình nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu, đo lường các biến và phương pháp phân tích. Chương 3: Phân tích hiệu quả kinh doanh của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2017 - 2021. 3 Chương 4: Kết quả nghiên cứu: Chương này nhằm trình bày kết quả nghiên cứu về các yếu tố có tác động đến hiệu quả kinh doanh.
Chương 5: Kết quả và giải pháp: Dựa trên kết quả nghiên cứu chương 3 và 4 đưa ra kết luận và đề xuất một số giải pháp. 4 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Chương 2 này trình bày nội dung cơ sở lý luận của đề tài, đầu tiên là tìm hiểu đôi nét về NHTM, các chỉ tiêu đo lường hiệu kinh doanh và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh ngân hàng. Kế đến là lược khảo các nghiên cứu liên quan ở trong nước và nước ngoài về các nhân tố tác động đến hiệu quả kinh doanh của NHTM để làm cơ sở cho việc xây dựng mô hình nghiên cứu và đề xuất phương pháp nghiên cứu của đề tài.1 Khái niệm về NHTM NHTM là định chế tài chính trung gian quan trọng nhất trong nền kinh tế thị trường, cho đến thời điểm hiện nay khái niệm về ngân hàng khá đa dạng. Theo luật ngân hàng của Ấn Độ ban hành năm 1950, được bổ sung năm 1959 đã quy định: “Ngân hàng là cơ sở nhận các khoản tiền ký thác để cho vay hay tài trợ, đầu tư”.
Theo luật ngân hàng của Pháp năm 1941 và luật ngân hàng sửa đổi năm 1984 thì “Tổ chức tín dụng là pháp nhân thực hiện thường xuyên các nghiệp vụ ngân hàng. Hoạt động ngân hàng bao gồm việc nhận tiền gửi từ công chứng, các hoạt động tín dụng cũng như việc cung cấp và quản lý các phương tiện thanh toán cho khách hàng”. Đạo luật Thương mại mở rộng của Mỹ ban hành năm 1962 định nghĩa “Bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi và cho vay đối với tổ chức kinh doanh hay cho vay thương mại sẽ được xem là một ngân hàng”. Tại Việt Nam, theo quy định tại điều 4, Luật các Tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 được Quốc hội khoá XII thông qua ngày 16/6/2010 và Luật 17/2017/QH14 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng: “Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này”.
“Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”.2 Chức năng của ngân hàng thương mại Theo Nguyễn Đăng Dờn (2014), các NHTM đều thực hiện 3 chức năng cơ bản như sau: 5 2.1 Chức năng trung gian tín dụng Trung gian tín dụng là chức năng quan trọng và cơ bản nhất của NHTM, nó không những cho thấy bản chất của NHTM mà còn cho thấy nhiệm vụ chính yếu của NHTM. Khi thực hiện chức năng này, NHTM là người trung gian để chuyển vốn tiền tệ từ nơi thừa (bằng nghiệp vụ nguồn vốn) sang nơi thiếu (bằng nghiệp vụ tín dụng). Chức năng trung gian tín dụng của NHTM có vai trò và tác dụng rất to lớn đối với nền kinh tế xã hội. - Trước hết, nhờ thực hiện chức năng này mà hệ thống NHTM huy động và tập trung hầu hết các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của xã hội, biến tiền nhàn rỗi từ chỗ là phương tiện tích luỹ trở thành ngồn vốn lớn của nền kinh tế.
- Kế đến, nhờ thực hiện chức năng này, mà hệ thống NHTM cung ứng một khối lượng vốn tín dụng rất lớn cho nền kinh tế. Đây là nguồn vốn rất quan trọng vì nó không những lớn về số tiền tuyệt đối mà vì tính chất “luân chuyển” không ngừng của nó.2 Chức năng trung gian thanh toán và cung ứng phương tiện thanh toán cho nền kinh tế Đây chức năng quan trọng, NHTM đứng ra làm trung gian để thực hiện các khoản giao dịch thanh toán giữa các khách hàng, giữa người mua, người mua…để hoàn tất các quan hệ kinh tế thương mại giữa họ với nhau. Nhiệm vụ cụ thể của chức năng này gồm: - Mở tài khoản tiền gửi giao dịch cho các tổ chức và cá nhân: Tất cả các đơn vị kinh tế, cá nhân và tổ chức nếu có nhu cầu đều có quyền mở tài khoản giao dịch tại bất kỳ một NHTM nào mà mình cảm thấy tiện lợi, an toàn. Còn các NHTM có nghĩa vụ đáp ứng nhu cầu của khách hàng nếu họ tuân thủ đúng quy định về việc mở và sử dụng tài khoản giao dịch tại ngân hàng.
- Quản lý và cung cấp các phương tiện thanh toán cho khách hàng: Thanh toán qua ngân hàng là thanh toán bằng chuyển khoản tức là bằng cách ghi Nợ, ghi Có vào tài khoản liên quan, vì vậy các chứng từ dùng làm căn cứ để hoạch toán vào tài khoản phải là những chứng từ do chính ngân hàng cung cấp và kiểm soát để đảm bảo quyền lợi cho khách hàng. Để thực hiện nhiệm vụ này các NHTM sẽ thiết kế và cung cấp nhiều loại phương tiện thanh toán khác nhau như giấy chuyển tiền, séc, thẻ tín dụng,… Những phương tiện thanh toán này không những phải đáp ứng yêu cầu quản lý và kiểm soát chặt chẽ, mà còn phải đáp ứng yêu cầu linh hoạt, tiện lợi, dễ sử dụng. 6 - Tổ chức và kiểm soát quy trình thanh toán giữa các khách hàng: Thực hiện chức năng trung gian thanh toán, NHTM trở thành người thủ quỹ và trung tâm thanh toán của xã hội. Sứ mệnh lớn lao đó của nhà ngân hàng đã được thực tế chứng minh với vai trò như sau: o Làm giảm bớt khối lượng tiền mặt lưu hành, tăng khổi lượng thanh toán bằng chuyển khoản.
Điều này làm giảm chi phí cho xã hội về in tiền,vận chuyển, bảo quản tiền tệ, tiết kiệm nhiều chi phí về giao dịch thanh toán… o Cũng nhờ thực hiện chức năng này mà hệ thống NHTM góp phần đẩy nhanh tốc độ luân chuyển Tiền – Hàng.3 Chức năng cung ứng dịch vụ ngân hàng Nếu chỉ dừng lại ở chức năng trung gian tín dụng và trung gian thanh toán, vốn đã mang lại hiệu quả to lớn cho nền kinh tế - xã hội thì chưa đủ, các NHTM cần phải đáp ứng tất cả các nhu cầu của khách hàng có liên quan hoạt động ngân hàng. Đó chính là việc cung ứng dịch vụ ngân hàng. Dịch vụ ngân hàng mà NHTM cung cấp cho khách hàng không chỉ thuần tuý để hưởng hoa hồng và dịch vụ phí, yếu tố làm tăng doanh thu và lợi nhuận cho ngân hàng,mà dịch vụ ngân hàng cũng có tác dụng hỗ trợ các mặt hoạt động chính của NHTM mà trước hết là hoạt động tín dụng. Vì vậy các NHTM chỉ nhận cung ứng các dịch vụ có liên quan đến hoạt động ngân hàng.
Các nhiệm vụ cụ thể của chức năng này bao gồm: o Dịch vụ ngân quỹ và chuyển tiền nhanh quốc nội. o Dịch vụ kiều hối và chuyển tiền nhanh quốc tế. o Dịch vụ uỷ thác (bảo quản, thu hộ, chi hộ … mua bán hộ…). o Dịch vụ tư vấn đầu tư, cung cấp thông tin,… o Dịch vụ ngân hàng điện tử ( E-Banking).3 Hiệu quả kinh doanh NHTM 2.1 Khái niệm Hiệu quả là một phạm trù được sử dụng rộng rãi trong tất cả lĩnh vực kinh tế, xã hội và ở mỗi lĩnh vực khác nhau thì sẽ có cách nhìn nhận, quan điểm khác nhau về vấn đề hiệu quả.
Hiệu quả kinh doanh ngân hàng được xem là kết quả lợi nhuận do hoạt động kinh doanh ngân hàng mang lại trong một thời gian nhất định (Trương Quang Thông, 2012). Còn theo Daft (2008) thì hiệu quả kinh doanh là khả năng biến đổi các đầu vào có tính chất khan hiếm thành khả năng sinh lời hoặc giảm thiểu chi phí so với đối thủ cạnh tranh. Các ngân hàng thực hiện tất cả các hoạt động kinh doanh 7 để đạt được mục tiêu cuối cùng là lợi nhuận tối đa. Để đạt được lợi nhuận cao nhất có thể, ngân hàng phải quản lý tốt các tài sản có của mình, chẳng hạn các khoản cho vay và đầu tư, các hoạt động trung gian và thu nhập từ hoạt động khác.
Ngoài ra, ngân hàng cũng phải kiểm soát rủi ro cho vay cũng như chi phí ngân hàng.2 Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh doanh của ngân hàng Nhóm tỷ số đầu tiên cần xem xét khi đánh giá hoạt động NHTM là nhóm các tỷ số đo lường khả năng sinh lợi hay nhóm tỷ số lợi nhuận. Ngoài ra còn sử dụng các hệ số như tỷ lệ thu nhập lãi cận biên, tỷ lệ thu nhập ngoài lãi cận biên, chênh lệch lãi suất bình quân. Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (Return On Equity- ROE) ROE là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động được rất nhiều nhà đầu tư và cổ đông quan tâm vì nó cho biết một đồng vốn do chủ sở hữu bỏ ra sẽ mang lại được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau khi thực hiện nghĩa vụ với chủ nợ và nhà nước. Lợi nhuận sau thuế ROE = Vốn chủ sở hữu Trong công thức trên, số liệu lợi nhuận sau thuế được thu thập từ báo cáo kết quả kinh doanh, trong khi số liệu vốn chủ sở hữu được thu thập từ bảng cân đối kế toán.
Vốn chủ sở hữu bao gồm các khoản vốn cổ phần thường, vốn cổ phần ưu đãi, lợi nhuận giữ lại và các quỹ dự trữ của ngân hàng. Tỷ số ROE được xem là xuất phát điểm cho việc đánh giá tình hình tài chính của một NHTM, từ đó có thể đánh giá được hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. ROE có tỷ lệ thấp so với những ngân hàng khác sẽ làm giảm đi khả năng thu hút vốn mới cần thiết cho sự mở rộng và duy trì vị thế cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường. Bên cạnh đó các quy định pháp lý đều ràng buộc việc gia tăng tài sản ngân hàng gắn chặt với việc tăng vốn chủ sở hữu nên khi ROE thấp ngân hàng không có cơ hội tích luỹ để tăng vốn chủ sở hữu điều đó làm ảnh hưởng và hạn chế tăng trưởng của ngân hàng.