CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Khái quát chung về Ngân Hàng Thương Mại 1. Khái niệm Khái niệm về Ngân Hàng Thương Mại Ngân hàng thương mại (NHTM) là tổ chức tài chính trung gian có vị trí quan trọng nhất trong nền kinh tế, nó là một loại hình doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng. Ngày 23/5/1990 theo pháp lệnh ngân hàng của Hội đồng Nhà nước xác định:" Ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.
Luật các tổ chức tín dụng do Quốc Hội khóa X thông qua ngày 12/12/1997, định nghĩa: Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan. Theo Nguyễn Thị Mùi, 2005 cũng đã định nghĩa: “ Ngân Hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ, mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận gửi tiền của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”. Theo luật các tổ chức tín dụng năm 2010, đưa ra định nghĩa: “ Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. Từ những khái niệm về ngân hàng thương mại, cho thấy sự hình thành, tồn tại và phát triển lâu đời gằn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hóa và đời sống của người lao động.
SVTH: Nguyễn Thị Hiệp 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.Bùi Dũng Thể 1. Đặc trưng của Ngân Hàng Thương Mại Thứ nhất, Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp kinh doanh hoạt động vì mục tiêu lợi nhuận. Lợi nhuận của ngân hàng thương mại được thể hiện qua số chênh lệch giữa chi phí huy động nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi và chi phí cho vay (hoặc chi phí đầu tư nguồn vốn đó). Các ngân hàng thương mại phải thực hiện đi vay để cho vay nhằm gia tăng nguồn lợi nhuận và đây cũng là hoạt động cơ bản của ngân hàng.
Thứ hai, Ngân hàng thương mại là tổ chức được phép nhận tiền gửi gắn với trách nhiệm hoàn trả. Hoạt động nhận tiền gửi là một trong những hoạt động chính ngân hàng thương mại thực hiện trước khi tiến hành cung cấp các sản phẩm tín dụng hoặc đầu tư khác của mình. Trong quá trình huy động vốn thông qua nhận tiền gửi, ngân hàng thương mại có trách nhiệm và đảm bảo hoàn trả cho khách hàng vốn gốc và lãi sau một thời gian nhất định theo cam kết, và hoạt động này được pháp luật bảo trợ. Thứ ba, Ngân hàng thương mại sử dụng tiền gửi đã huy động được tiến hành thực hiện cho vay, chiết khấu và đầu tư.
Có thể nói, lượng tiền gửi ngân hàng thương mại huy động được có quy mô rất lớn, và để gia tăng lợi nhuận của mình các ngân hàng thương mại sẽ thực hiện chủ yếu các hoạt động tín dụng (có thể là cho vay trực tiếp với các chủ thể cần vốn hoặc có thể là cho vay thông qua chiết khấu các giấy tờ có giá của khách hàng). Để giảm thiểu rủi ro trong quá trình hoạt động cũng như gia tăng thêm lợi nhuận, họ còn sử dụng một phần tiền gửi đã huy động được đó thực hiện đầu tư vào những lĩnh vực có khả năng sinh lời trong tương lai. Thứ tư, Ngân hàng thương mại thực hiện các khoản thanh toán và cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho khách hàng. Tuy ra sau hai hoạt động cơ bản là nhận tiền gửi và tín dụng nhưng việc cung cấp thanh toán và các dịch vụ khác của ngân hàng lại là hoạt động đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế và các chủ thể trong quá trình phát triển của hệ thống ngân hàng thương mại.
Với sự phát triển của khoa học công nghệ, với sự phát triển của hệ thống ngân hàng đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thanh toán cả trong nước và trên quốc tế. Với sự ra đời của các hình thức thanh toán đa dạng (thanh toán qua thẻ, thanh toán qua mạng internet,…) đã giúp khách hàng của ngân SVTH: Nguyễn Thị Hiệp 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.Bùi Dũng Thể hàng dễ dàng và thuận tiện hơn trong quá trình thanh toán, đồng thời yếu tố an toàn cũng được đề cập. Một số chức năng của Ngân Hàng Thương Mại Nhìn chung, ngân hàng thương mại có ba chức năng cơ bản: Chức năng trung gian tài chính: Đây là chức năng cơ bản và quan trọng nhất của ngân hàng thương mại. NHTM đóng vai trò trung gian khi thực hiện các nghiệp vụ bao gồm nghiệp vụ cấp tín dụng, nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ….
đáp ứng nhu cầu kinh doanh và đầu tư cho nền kinh tế cũng như tiêu dùng của xã hội. Nhận tiền gửi và cho vay luôn là hoạt động quan trọng nhất của ngân hàng thương mại, nó mang đến lợi nhuận lớn nhất cho ngân hàng thương mại. Chức năng trung gian thanh toán: Với chức năng này, ngân hàng thương mại đóng vai trò là thủ quỹ cho các doanh nghiệp và cá nhân. Ngân hàng thương mại sẽ cung cấp cho các chủ thể của nền kinh tế nhiều công cụ thanh toán mang tiện ích cao cả ở trong nước hay ở nước ngoài như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ rút tiền, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng… Tùy theo nhu cầu, khách hàng có thể chọn cho mình phương thức thanh toán phù hợp.
Nhờ đó mà các chủ thể kinh tế không phải giữ tiền trong túi, mang theo tiền để gặp chủ nợ, gặp người phải thanh toán dù ở gần hay xa mà họ có thể sử dụng một phương thức nào đó để thực hiện các khoản thanh toán. Do vậy các chủ thể kinh tế sẽ tiết kiệm được rất nhiều chi phí, thời gian, lại đảm bảo thanh toán an toàn.Nhờ chức năng này, ngân hàng làm giảm lượng tiền trong lưu thông, tăng khối lượng thanh toán bằng tài khoản và tiết kiệm được rất nhiều chi phí. Chức năng tạo phương tiện thanh toán( chức năng tạo tiền): Hai chức năng làm trung gian tín dụng và trung gian thanh toán là tiền đề phát sinh chức năng "tạo tiền" của NHTM. Quá trình tạo tiền của hệ thống NHTM là quá trình mở rộng nhiều lần tiền gửi thông qua kỳ hạn.
Quá trình này được thực hiện thông qua hoạt động tín dụng và tổ chức thanh toán không dùng tiền mặt trong hệ thống ngân hàng. Nếu chỉ xét thuần tuý khả năng tạo ra ngoại tệ thì với một khoản dự trữ mới được cung cấp thêm, toàn bộ hệ thống NHTM có thể tạo ra được một lượng tiền gửi qua ngân hàng gấp nhiều lần dự trữ ban đầu mà họ nhận được. Lượng tiền này tỷ lệ SVTH: Nguyễn Thị Hiệp 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.Bùi Dũng Thể nghịch với tỷ lệ dự trữ bắt buộc và tỷ lệ thuận với lượng dự trữ mới được cung cấp ban đầu, điều này được biểu hiện qua công thức sau: Lượng tiền = Lượng dự trữ mới / Tỷ lệ dự trữ bắt buộc Tuy nhiên, việc mở rộng tiền gửi như trên mới chỉ là khả năng mà thôi. Mức độ mở rộng tiền gửi của NHTM lên bao nhiêu lần còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như: Tỷ lệ rút tiền mặt của khách hàng, mức độ sử dụng số vốn khả dụng của ngân hàng để cho vay,… chức năng này đã tạo thêm nguồn vốn cho các NHTM để mở rộng khả năng cho vay.
Các chức năng của NHTM có mối quan hệ bổ sung hỗ trợ lẫn nhau, trong đó chức năng tín dụng là chức năng cơ bản tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức năng khác. Đồng thời thực hiện tốt chức năng trung gian thanh toán và "tạo tiền" góp phần mở rộng hoạt động của chức năng trung gian thanh toán. Nhà nước cần phải có luật định rõ ràng việc tạo tiền qua tín dụng. Quy định tỷ lệ tạo tiền qua tiền tệ của các ngân hàng luôn phải phù hợp với nhu cầu về tiền tệ cho sự phát triển của nền kinh tế.
Lạm phát tín dụng hay thắt chặt tín dụng cũng đều gây nên sự suy thoái cho nền kinh tế. Vai trò của Ngân Hàng Thương Mại NHTM cung cấp nhu cầu vay vốn cho sự phát triển kinh tế, mở rộng đầu tư sản xuất kinh doanh. Góp phần làm cho sản xuất kinh doanh diễn ra liên tục không bị đứt quãng cung cấp vốn đầu tư và các công cụ lưu thông tín dụng, rút ngắn tốc độ lưu thông hàng hóa và tiền tệ từ đó giúp nâng cao hiệu quả kinh tế. Tham gia vào sự ổn định của thị trường tài chính và thị trường chứng khoán.
Tạo điều kiện phát triển nên những thị trường này thông qua việc chiết khấu giải quyết khả năng lưu thông nhanh của chứng khoán. Tạo ra môi trường thuận lợi cho việc thực hiện các chính sách của ngân hàng Trung ương. biểu thuế xuất nhập khẩu 2020 NHTM là cầu nối cho việc phát triển kinh tế đối ngoại của các quốc gia. SVTH: Nguyễn Thị Hiệp 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.Bùi Dũng Thể 1.
Tổng quan về hiệu quả hoạt động kinh doanh 1. Khái niệm về hiệu quả hoạt động kinh doanh Hiện nay, trong nền kinh tế thị trường, mục tiêu lâu dài của các doanh nghiệp là kinh doanh có hiệu quả và tối đa hóa lợi nhuận. Môi trường kinh doanh luôn biến đổi đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có chiến lược kinh doanh phù hợp. Công việc kinh doanh là việc làm đòi hỏi sự tính toán nhanh nhẹn, biết nhìn nhận vấn đề ở tầm chiến lược.
Để hiểu được khái niệm hiệu quả hoạt động cần xem xét đến hiệu quả kinh tế của một hiện tượng. “ Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực để đạt được mục tiêu xác định”, nó biểu hiện mối quan hệ tương quan giữa kết quả thu được và toàn bộ chi phí bỏ ra để có kết quả đó, phản ánh được chất lượng của hoạt động kinh tế đó.