CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MÔ HÌNH CAMEL TRONG ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HĐKD CỦA CTCK 1. Tổng quan nghiên cứu Trong mô hình quản lý giám sát hiện đại, quy chế CAMEL được sử dụng trong nội bộ UBCKNN. Đây là một quy chế sử dụng phương pháp đánh giá, xếp loại đã được áp dụng rộng rãi trên thế giới để đánh giá các tổ chức ngân hàng, tài chính. Vậy nên các công trình đánh giá các TCTC khá phổ biến, dưới đây là các nghiên cứu nổi bật: Nghiên cứu trong nước Tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng (2021) với đề tài “Nghiên cứu hệ thống chỉ tiêu tài chính nhằm đánh giá năng lực tài chính của các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam” có kết luận năng lực tài chính của các ngân hàng TMCP giai đoạn 2013- 2018 được đánh giá là chưa cao do quy mô VCSH còn nhỏ bé so với các ngân hàng trong khu vực, việc tăng quy mô dư nợ tín dụng và TTS thiếu tính bền vững, tình trạng thanh khoản yếu, mức sinh lợi trong kinh doanh không cao.
Tác giả Nguyễn Thị Cành và Nguyễn Thị Diễm Hiền (2015) có nghiên cứu về “Thực trạng hoạt động và mức độ lành mạnh của các ngân hàng thương mại Việt Nam” kết quả phân tích đã chỉ ra các NHTM VN đã tăng lên về quy mô TTS và vốn chủ sở hữu. Tuy nhiên, hiệu quả HĐKD của các NHTM VN chưa cao và có xu hướng giảm dần. Khả năng sinh lời của các NHTM nhà nước cao hơn các NHTM cổ phần tư nhân. Tác giả Nguyễn Ngọc Xuân (2018) nghiên cứu “Giải pháp tăng nguồn vốn nhằm đảm bảo an toàn tài chính cho Công ty TNHH Chứng khoán ACB (ACBS)” đánh giá được tỷ lệ an toàn vốn trên mối quan hệ tổng hòa với yếu tố rủi ro thông qua chỉ tiêu an toàn vốn khả dụng hay đánh giá sức mạnh tài chính công ty một cách toàn diện theo tiêu chuẩn quốc tế CAMEL qua đó nhận dạng điểm mạnh hay các vấn đề còn tồn tại trong thực trạng nguồn vốn đảm bảo an toàn tài chính của Công ty TNHH Chứng khoán ACB.
Nghiên cứu nước ngoài 3 Syed Moudud-Ul-Huq (2017) đo lường hiệu quả hoạt động tài chính của ngành ngân hàng Bangladesh trong giai đoạn 2013–2014 và đánh giá chúng theo hệ thống xếp hạng tổng hợp. Hiệu quả hoạt động của hầu hết các ngân hàng phụ thuộc nhiều hơn vào khả năng của nhà quản lý trong việc xây dựng các kế hoạch chiến lược và việc thực hiện hiệu quả các chiến lược của ngân hàng. Ahmad Dahiyat (2012) xem xét từng tham số của hệ thống CAMELS bằng cách thực hiện các tài liệu và nghiên cứu thực nghiệm, và dựa trên các cuộc phỏng vấn với những người có trách nhiệm trong các công ty môi giới chứng khoán ở Jordan. Kết quả là, nghiên cứu này đã phát triển một khuôn khổ có chứa hiệu suất các thông số mà cơ quan giám sát có thể dựa vào để đánh giá hoạt động môi giới các công ty.
Christopoulos và cộng sự (2011) kiểm tra sự sụp đổ của Lehman Brothers - ngân hàng đầu tư lớn nhất từng tuyên bố phá sản đã ảnh hưởng đến các nền kinh tế và trên hầu hết các TTCK trên toàn cầu. Bằng cách phân tích các đặc điểm tài chính của nó trong 5 năm 2003-2007, sử dụng tỷ lệ CAMELS cho thấy rằng các khoản tín dụng của ngân hàng bị phát hiện là xấu và đáng nghi ngờ trong khi ban quản lý dường như không muốn và không thể đảo ngược quá trình suy giảm. Ngoài ra, ban lãnh đạo đã không tuân thủ các quy tắc do các cơ quan giám sát đưa ra trong khi các phương pháp quản lý rủi ro tuân theo được coi là không đủ tương ứng với kích cỡ. Khoảng trống nghiên cứu Trong quá trình tìm hiểu và nghiên cứu, tác giả nhận thấy các công trình chủ yếu đều tập trung nghiên cứu về ngân hàng và chưa có bài viết về các TCTC khác như quỹ đầu tư hay CTCK.
Các nghiên cứu trong nước cũng đã có những bài viết về CTCK nhưng còn hạn chế về số lượng, hầu hết là lấy số liệu của tất cả các CTCK thành viên chứ không về cụ thể CTCK nào trong giai đoạn 2019 -2021. Công ty chứng khoán 1. Khái niệm 4 CTCK là DN kinh doanh chứng khoán với tư cách là thành viên của Sở giao dịch chứng khoán. Khái niệm CTCK đã được quy định cụ thể tại Khoản 1 Điều 2 Nghị định 86/2016/NĐ-CP như sau: “CTCK là DN thành lập và hoạt động theo pháp luật chứng khoán để thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các nghiệp vụ: Môi giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán và được cung cấp các dịch vụ tài chính theo quy định của pháp luật chứng khoán.” CTCK được hiểu là TCTC trung gian trên TTCK, dưới dạng Công ty Cổ phần hoặc Công ty TNHH, được thành lập và hoạt động theo Quy định Pháp luật, thực hiện một hoặc một số nghiệp vụ Kinh doanh Chứng khoán dưới sự quản lý trực tiếp của cơ quan quản lý chuyên trách là UBCKNN.
TCTC là khái niệm để chỉ những tổ chức thực hiện chức năng dẫn nguồn vốn từ người có tới người cần. CTCK sẽ có nhiệm vụ thu xếp các giao dịch cho khách hàng và sẽ có một phần hoa hồng trong mỗi lần giao dịch giữa các bên. Đặc điểm, vai trò 1. Đặc điểm - CTCK là đơn vị trung gian trên thị trường tài chính: Một trong những đặc điểm nổi bật quan trọng nhất đối với CTCK là cầu nối trung gian giữa người cần vốn và người có vốn.
Công ty này đóng vai trò là trung gian đầu tư chính, và còn là cầu nối giữa các NĐT với nhau. Với đặc điểm này, các CTCK cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính bao gồm các dịch vụ môi giới, tư vấn danh mục đầu tư, dịch vụ ngân hàng đầu tư, quản lý danh mục đầu tư thực hiện các giao dịch mua bán cổ phiếu, trái phiếu và các công cụ của thị trường tiền tệ. - CTCK là một tổ chức kinh doanh có điều kiện: Các CTCK hoạt động như một tổ chức kinh doanh có điều kiện. Các hoạt động trong lĩnh vực tài chính – hoạt động có tầm quan trọng ảnh hưởng rất lớn đến sự sống còn của DN, vì thế việc ban hành những quy định chặt chẽ là rất cần thiết để đảm bảo an toàn cho nền kinh tế.
5 - CTCK là một tổ chức kinh doanh hoạt động bị kiểm soát: Tất cả các HĐKD của CTCK đều bị kiểm soát chặt chẽ bởi các cơ quan có thẩm quyền và hiệp hội chứng khoán sở tại. Vai trò - Đối với các tổ chức phát hành: CTCK tạo ra cơ chế huy động vốn cho DN và nền kinh tế. Mục tiêu khi tham gia vào TTCK của các tổ chức phát hành là huy động vốn thông qua việc phát hành các chứng khoán. Vì vậy, thông qua hoạt động đại lý phát hành, bảo lãnh phát hành, các CTCK có vai trò tạo ra cơ chế huy động vốn phục vụ các nhà phát hành.
Một trong những nguyên tắc hoạt động của TTCK là nguyên tắc trung gian. Nguyên tắc này yêu cầu những NĐT và những nhà phát hành không được mua bán trực tiếp chứng khoán mà phải thông qua các trung gian mua bán. Các CTCK sẽ thực hiện vai trò trung gian cho cả người đầu tư và nhà phát hành. Khi thực hiện công việc này, CTCK đã tạo ra cơ chế huy động vốn cho nền kinh tế thông qua TTCK.
- Đối với các NĐT: Thông qua các hoạt động như môi giới, tư vấn đầu tư, quản lý danh mục đầu tư, CTCK có vai trò làm giảm chi phí và thời gian giao dịch, do đó nâng cao hiệu quả các khoản đầu tư. Đối với hàng hoá thông thường, mua bán qua trung gian sẽ làm tăng chi phí cho người mua và người bán. Tuy nhiên, đối với TTCK, sự biến động thường xuyên của giá cả chứng khoán cũng như mức độ rủi ro cao sẽ làm cho những NĐT tốn kém chi phí, công sức và thời gian tìm hiểu thông tin trước khi quyết định đầu tư. Nhưng thông qua các CTCK, với trình độ chuyên môn cao và uy tín nghề nghiệp sẽ giúp các nhà đầu tư thực hiện các khoản đầu tư một cách hiệu quả.
- Đối với TTCK: (1) Góp phần tạo lập giá cả, điều tiết thị trường. Giá cả chứng khoán là do thị trường quyết định. Tuy nhiên, để đưa ra mức giá cuối cùng, người mua và người bán phải thông qua các CTCK vì họ không được tham gia trực tiếp vào quá trình mua bán. Các CTCK là những thành viên của thị trường, do vậy họ cũng góp phần tạo lập giá cả thị trường thông qua đấu giá.
Trên thị trường sơ cấp, các CTCK cùng với các 6 nhà phát hành đưa ra mức giá đầu tiên. Chính vì vậy, giá cả của mỗi loại chứng khoán giao dịch đều có sự tham gia định giá của các CTCK. Các CTCK còn thể hiện vai trò lớn hơn khi tham gia điều tiết thị trường. Để bảo vệ những khoản đầu tư của khách hàng và bảo vệ lợi ích của chính mình, nhiều CTCK đã dành một tỷ lệ nhất định các giao dịch để thực hiện vai trò bình ổn thị trường.
(2) Góp phần làm tăng tính thanh khoản của các TS tài chính. TTCK có vai trò là môi trường làm tăng tính thanh khoản của các TS tài chính. Nhưng các CTCK mới là người thực hiện tốt vai trò đó vì CTCK tạo ra cơ chế giao dịch trên thị trường. Trên thị trường sơ cấp, do thực hiện các hoạt động như bảo lãnh phát hành, chứng khoán hoá, các CTCK không những huy động một lượng vốn lớn đưa vào sản xuất kinh doanh cho nhà phát hành mà còn làm tăng tính thanh khoản của các TS tài chính được đầu tư vì các chứng khoán qua đợt phát hành sẽ dược mua bán giao dịch trên thị trường thứ cấp.
Điều này làm giảm rủi ro, tạo tâm lý yên tâm cho người đầu tư. Trên thị trường thứ cấp, do thực hiện các giao dịch mua và bán các CTCK giúp người đầu tư chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt và ngược lại. Những hoạt động đó có thể làm tăng tính thanh khoản của những TS tài chính. - Đối với các cơ quan quản lý thị trường: CTCK có vai trò cung cấp thông tin về TTCK cho các cơ quan quản lý thị trường để thực hiện mục tiêu đó.
Các CTCK thực hiện được vai trò này bởi vì họ vừa là người bảo lãnh phát hành cho các chứng khoán mới, vừa là trung gian mua bán chứng khoán và thực hiện các giao dịch trên thị trường.