CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA CƠ CẤU VỐN ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Cơ cấu vốn của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm Các tác giả Khan và Jain (1997) trong cuốn sách “Financial Management” (tạm dịch là “Quản trị tài chính”) khi đề cập tới cơ cấu vốn đã cho rằng “Cơ cấu vốn là sự kết hợp giữa nợ vay và vốn chủ sở hữu được doanh nghiệp sử dụng để tài trợ cho những hoạt động kinh doanh dài hạn. Vốn được hiểu là nguồn tài chính dài hạn trong doanh nghiệp, được xác định bằng tổng tài sản trừ đi nợ ngắn hạn”. Cùng chung quan điểm này, tác giả Pandey (1999) trong cuốn sách “Financial Management” ( tạm dịch là “Quản trị tài chính”) đã định nghĩa “Cơ cấu vốn liên quan đến việc huy động vốn dài hạn từ các cổ đông và các chủ nợ dài hạn. Nhà quản trị tài chính cần phải quyết định về tỷ lệ giữa nguồn vốn nợ vay (với chi phí cố định) và vốn chủ sở hữu”.
Tại Việt Nam, tác giả Nguyễn Thu Thủy (2011) trong cuốn “Giáo trình quản trị tài chính” đưa ra khái niệm Cơ cấu vốn, hay cấu trúc nguồn vốn, của doanh nghiệp (capital structure/ leverage/ financial structure) được tính bằng tỷ lệ giữa Nợ phải trả (có thể là Tổng nợ hoặc Nợ dài hạn) và Tổng vốn đầu tư (hoặc Vốn chủ sở hữu). Nói cách khác, cơ cấu vốn nói lên tổng giá trị của doanh nghiệp được chia ra như thế nào giữa các bên chủ nợ (creditors/ debtholders/ bondholders) và chủ sở hữu hay cổ đông (owners/ shareholders/ equityholders). Cơ cấu vốn có thể được xác định trên cơ sở giá trị sổ sách hoặc giá trị thị trường của tài sản, nợ và vốn chủ sở hữu. Nợ phải trả có thể là tổng nợ của doanh nghiệp, hoặc chỉ tính riêng nợ dài hạn hoặc nợ ngắn hạn.
Tóm lại, khái niệm cơ cấu vốn có thể được tiếp cận theo nhiều cách khác nhau. Các thuật ngữ tiếng Anh như capital structure, finance leverage hay financial structure vẫn thường được sử dụng rộng rãi và đều được gọi chung là cơ cấu vốn, hoặc cấu trúc vốn hay đòn bảy tài chính. Tác giả Watson và Head (2007) trong cuốn sách “Corporate Finance: Principles and Practice” (tạm dịch là “Tài chính doanh nghiệp: Nguyên lý và thực hành”) đưa ra khái niệm về cơ cấu vốn như sau “Thuật ngữ cơ cấu vốn trong tài chính phản ánh giá trị của các khoản nợ mà doanh nghiệp sử dụng so với phần vốn chủ sở 5 hữu. Cơ cấu vốn trong doanh nghiệp có thể được đo lường bằng các chỉ số tài chính bao gồm: Tỷ lệ nợ/ Vốn chủ sở hữu (nợ dài hạn /vốn chủ sở hữu hoặc Tỷ lệ nợ dài hạn/Tổng vốn sử dụng).
Bên cạnh đó, các tác giả cũng cho rằng “Có thể bao gồm cả nợ ngắn hạn cùng với nợ dài hạn khi xác định tỷ lệ cơ cấu vốn, đặc biệt trong trường hợp doanh nghiệp có mức thấu chi kéo dài từ năm này sang năm khác”. Một cách tiếp cận khác, Ross và cộng sự (2013) trong cuốn sách “Corporate Finance” (Tạm dịch là “Tài chính doanh nghiệp”) cho rằng: “Cơ cấu vốn là sự kết hợp giữa các khoản nợ và vốn chủ sở hữu được duy trì bởi một công ty”. Cùng quan điểm như trên, tác giả Berk và cộng sự (2012) trong cuốn sách “Fundamentals of Corporate Finance” (tạm dịch là “Những nguyên lý cơ bản về Tài chính doanh nghiệp”) đã đưa ra khái niệm: “Tỷ lệ tương đối giữa nợ, vốn chủ sở hữu và các chứng khoán khác mà doanh nghiệp huy động được gọi là cơ cấu vốn”. Khi doanh nghiệp huy động vốn từ bên ngoài để tài trợ cho các dự án của doanh nghiệp, họ cần quyết định loại chứng khoán nào sẽ được phát hành và cơ cấu vốn mà doanh nghiệp thiết lập nên.
Để phân tích về cơ cấu vốn, các tác giả sử dụng chỉ tiêu tổng nợ (bao gồm cả nợ ngắn hạn và nợ dài hạn) chia cho tổng vốn chủ sở hữu. Đứng trên góc độ của doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu là nguồn vốn của chủ sở hữu doanh nghiệp được sử dụng và phục vụ cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn chủ sở hữu thay đổi sẽ làm thay đổi cơ cấu chủ sở hữu của doanh nghiệp, ảnh hưởng tới quyền lợi của các chủ sở hữu hiện tại. Xét về khả năng tiết kiệm thuế TNDN, khuếch đại thu nhập CSH, vốn chủ sở hữu không tại ra khoản tiết kiệm thuế TNDN, không tạo ra đòn bảy tài chính.
Bên cạnh đó, mặc dù nợ phải trả là nguồn vốn thuộc quyền sở hữu các chủ thể khác nhưng doanh nghiệp mình có quyền sử dụng. Xét trên khía cạnh mức độ ảnh hưởng tới quyền kiểm soát danh nghiệp của CSH hiện tại, nợ phải trả sẽ không làm thay đổi cơ cấu CSH, bảo vệ được quyền lợi của các CSH. Nợ phải trả tạo ra khoản tiết kiệm thuế và phát huy được tác dụng khuếch đại thu nhập CSH của đòn bảy tài chính. Cấu trúc vốn của một công ty thông thường có sự biến động tiêu cực hoặc tích cực tới lợi ích của chủ sở hữu và cơ cấu này cũng thay đổi dựa theo vòng đời kinh doanh.
Cho nên các nhà quản lý luôn cần phải cân nhắc, xem xét kỹ làm sao để đưa ra những quyết định điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn đạt mức tối ưu. 6 Nếu căn cứ vào tính chất sở hữu hay nguồn hình thành thì vốn kinh doanh của doanh nghiệp được chia như sau: Sơ đồ 1 : Cơ cấu vốn theo nguồn vốn của DNNN (Nguồn: Giáo trình Tài chính doanh nghiệp PTS. Vũ Duy Hào, 1997) Nếu căn cứ vào nội dung kinh tế: Sơ đồ 2: Cơ cấu vốn theo nội dung kinh tế (Nguồn: Giáo trình Tài chính doanh nghiệp PTS. Vũ Duy Hào, 1997) 7 Theo giáo trình Đại Học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, năm 2021, cơ cấu vốn của doanh nghiệp mang những đặc trưng cơ bản như sau: - Có rất nhiều yếu tố tác động đến cơ cấu vốn, do đó không có một cơ cấu vốn tối ưu nào dành cho mọi doanh nghiệp, trong mọi chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Như vậy khi nghiên cứu cơ cấu vốn của một doanh nghiệp phải nghiên cứu cả trạng thái động và trạng thái tĩnh. - Sự biến động của cơ cấu vốn là kết quả tất yếu của sự biến động các nguồn vốn. Việc liên doanh liên kết, nhận vốn ngân sách nhà nước hay sự biến động của lợi nhuận để lại sẽ làm thay đổi cơ cấu vốn. Tuy nhiên vốn chủ sở hữu thường ít biến động hơn vốn vay nên sự biển động của nó gây ra sẽ nhỏ hơn vốn vay.
- Cơ cấu vốn không quyết định kết quả kinh doanh nhưng có ảnh hưởng trực tiếp đến doanh lợi của doanh nghiệp. Với cùng một lượng vốn kinh doanh nhất định đủ để đáp ứng cho hoạt động sản xuất kinh doanh thì cơ cấu của bản thân lượng vốn đó không hề ảnh hưởng đến KQKD. Song đối với doanh nghiệp điều quan trọng hơn cả là doanh lợi vốn (LNR/Vốn). Nếu DN có khả năng vay vốn với lãi suất thấp hơn tỷ suất lợi nhuận ròng/ vốn sẽ giúp doanh nghiệp tăng thu nhập.
LNTT tăng trong khi tổng Vốn vẫn giữ nguyên sẽ giúp doanh lợi vốn tăng và ngược lại, đặc biệt là doanh lợi VCSH.2 Các chỉ tiêu đo lường cơ cấu vốn Tại một số nghiên cứu, cơ cấu vốn thường được xác định dựa vào tỷ lệ nợ dài hạn của doanh nghiệp (Khan và Jain,1997; Pandey, 2002). Tuy nhiên, tại một số nền kinh tế mới nổi khác, các doanh nghiệp thường sử dụng đồng thời cả vay nợ ngắn và dài hạn để tài trợ cho việc hình thành tài sản. Thậm chí, nhiều doanh nghiệp còn thường xuyên quay vòng vốn ngắn hạn để thay thế cho việc huy động vốn dài hạn. Vì vậy, để phù hợp với bối cảnh của từng quốc gia, các tác giả Rajan và Zingales (1995) cho rằng việc xác định cơ cấu vốn cho doanh nghiệp nên phụ thuộc vào mục tiêu của việc phân tích.
Cơ cấu vốn thường được đánh giá thông qua các chỉ tiêu sau: Thứ nhất, tỷ lệ nợ trên tổng tài sản. Chỉ tiêu này cho biết tỷ lệ tài sản được tài trợ bằng nguồn vốn vay, qua đó thể hiện mức độ sử dụng các nguồn vốn vay của doanh nghiệp. Tỷ lệ này được đo lường như sau: 8 Tỷ lệ nợ trên trên tài sản (hay còn gọi là hệ số nợ trên tài sản) là chỉ số quan trọng phản ánh cơ cấu vốn của doanh nghiệp. Nợ phải trả: trên tử số của phân số trên có thể lấy giá trị là tổng nợ, nợ dài hạn hoặc nợ ngắn hạn của doanh nghiệp, tương ứng với các tên gọi có thể là tỷ lệ tổng nợ, tỷ lệ nợ dài hạn và tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng tài sản.
=>> Chỉ tiêu này cho thấy mức độ độc lập hay phụ thuộc về tài chính của doanh nghiệp đối với chủ nợ. Nếu tỷ lệ nợ trên tài sản thấp chứng tỏ doanh nghiệp có tính độc lập cao với các chủ nợ, ít phụ thuộc vào nợ vay để mở rộng hoạt động kinh doanh. Ngược lại, tỷ lệ này càng lớn thì khả năng gặp khó khăn trong thanh toán nợ hoặc nguy cơ phá sản của doanh nghiệp càng cao. Thứ hai, tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu ( D/E) Chỉ tiêu này cho biết tỷ lệ giữa hai nguồn vốn cơ bản mà doanh nghiệp sử dụng để tài trợ cho hoạt động của mình là nợ và vốn chủ sở hữu.
Tỷ lệ này được đo lường như sau: =>> Tỷ lệ D/E cao cho thấy doanh nghiệp sử dụng nhiều vốn vay để tài trợ cho hoạt động kinh doanh. Nếu D/E liên tục cao trong một thời gian dài cho thấy khả năng trả nợ của doanh nghiệp khó khăn. Nếu D/E thấp thể hiện nguồn vốn cho hoạt động của doanh nghiệp từ vốn chủ sở hữu dồi dào, nợ thấp, không chịu nhiều áp lực tài chính và đang kinh doanh có hiệu quả nhưng cũng có thể do doanh nghiệp chưa biết cách vay nợ để và khai thác lợi ích hiệu quả từviệc tiết kiệm thuế. Thứ ba, tỷ lệ tự tài trợ.
Chỉ tiêu này cho biết mức độ tự chủ tài chính của doanh nghiệp. Tỷ lệ này được đo lường như sau: 9 =>> Tỷ lệ tự tài trợ càng lớn chứng tỏ nguồn vốn của doanh nghiệp được tài trợ nhiều từ nguồn vốn thực góp của các cổ đông. Ngược lại, tỷ lệ tự tài trợ thấp chứng tỏ doanh nghiệp được tài trợ nhiều hơn từ nguồn vốn vay. Căn cứ để xác định chỉ tiêu trên có thể dựa vào giá trị sổ sách hoặc giá trị thị trường của các nguồn vốn.