CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN CƠ BAN VE PHAN TÍCH HIỆU QUA DỰ ÁN ĐẦU TƯ 1.Một số vấn đề lý luận cơ ban 1. Đầu tư Từ các góc độ tiếp cận khác nhau hiện nay có rất nhiều quan niệm khác nhau vê dau tư, có thê điêm ra một sô quan niệm như: Theo Giáo trình Kinh tế dau tư xây dựng của GS.TSKH Nguyễn Văn Chọn, có sáu cách diễn đạt về đầu tư: Thứ nhất: Đầu tư là quá trình bỏ vốn dé tạo nên cũng như dé vận hành một loại tài sản kinh doanh nào đó như nhà xưởng, máy móc và vật tư (thường là đầu tư cho các đối tượng vật chất) cũng như dé mua cổ phiếu, trái phiếu hoặc cho vay lấy lãi (thường được gọi là đầu tư tài chính), mà ở đây những tài sản đầu tư này có thé sinh lợi dần hoặc thỏa mãn dần một nhu cầu nhất định nào đó cho người bỏ vốn cũng như toàn xã hội trong một thời gian nhất định trong tương lai (thường được gọi là dòng đời của dự án). Thứ hai: Đầu tư là sử dụng vốn nhằm tạo nên các dữ trữ và tiềm năng về tài sản dé sinh lợi dan theo thời gian trong tương lai. Thứ ba: Đầu tư là một chuỗi hành động chi cho một chủ trương kinh doanh nào đó, và ngược lại chủ đầu tư sẽ nhận được một chuỗi các khoản thu để đảm bảo hoàn vốn và có lãi một cách thỏa đáng.
Thứ tư: Đầu tư là một quá trình quản lý sử dụng tài sản một cách hợp lý, nhất là về mặt cơ cấu của tài sản đề sinh lợi. Thứ năm: Đầu tư cho phương tiện sản xuất đề thay thế lao động trực tiếp thủ công là một cách đi đường vòng và là lao động gián tiếp, đầu tư cũng là một hình thức hạn chế tiêu dùng hôm nay để thu được hàng tiêu dùng nhiều hơn trong ngày mai. Thứ sáu: Đầu tư là sử dụng các khoản tiền đã tích lũy được của xã hội, của các cơ sở sản xuất kinh doanh và dịch vụ, tiền tiết kiệm của dân vào việc tái sản xuất của xã hội nhằm tạo ra các tiềm lực lớn hơn về mọi mặt của đời sống kinh tế xã hội. Theo Giáo trình Lập dự án ddu tư của PGS.TS Nguyễn Bạch Nguyệt đầu tư được xem là quá trình sử dụng các nguồn lực ở hiện tại dé tiến hành các hoạt động nhằm thu được kết quả, thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai.
Đầu tư được chia thành đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. Như vậy, mỗi cách diễn đạt đều có ưu, nhược điểm khác nhau. Tác giả Nguyễn Văn Chọn cho rằng đầu tư cho các nhân tố sản xuất và kinh doanh, chỉ rõ đối tượng đầu tư, chỉ rõ đầu tư là sự bỏ vốn ở thời điểm hiện tại đề sinh lợi trong thời gian tương lai; thiên về đầu tư theo giác độ tài sản; theo giác độ tài chính và thường được dùng đề phân tích tài chính của dự án; theo giác độ tổng quát, có nội dung rộng rãi nhất về đầu tư, nhưng dễ lẫn với quá trình kinh doanh nói chung; muốn nhấn mạnh khía cạnh tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ làm thay đỏi cách thức lao động của đầu tư và thiên về giác độ vĩ mô, chỉ rõ các nguồn vốn đầu tư và lưu ý đến khía cạnh sản xuất.2 Bắt động sản Theo điều 181 Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 14/06/2005 quy định: Bất động sản là các tài sản bao gồm: a, Đất đai; b, Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; e, Các tài sản khác gắn liền với đất đai; d, Các tài sản khác do pháp luật quy định. Đầu tư bất động sản: được hiểu là việc đầu tư cho các đối tượng vật chất, mà đối tượng vật chat này là công trình xây dựng, Dự án đầu tư là tế bào cơ bản của hoạt động đầu tư.
Đó là một tập hợp các biện pháp có căn cứ khoa học và cơ sở pháp lý được đề xuất về các mặt kỹ thuật, công nghệ, tổ chức sản xuất, tài chính, kinh tế và xã hội dé làm cơ sở cho việc quyết định bỏ vốn đầu tư với hiệu quả tài chính cho doanh nghiệp và hiệu quả kinh tế xã hội đem lại cho quốc gia và xã hội lớn nhất có thể được. Dự án dau tư bat động sản là một tập hợp các đề xuất có liên quan đến việc bỏ vốn dé tạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm đạt được sự tăng trưởng về số lượng hoặc duy trì, cải tiến nâng cao chất lượng của sản phâm hoặc dịch vụ, trong khoảng thời gian xác định. Sự cần thiết của phân tích hiệu qua dự án đầu tư bat động sản trong nền kinh tế Sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên dé đáp ứng nhu cầu phát triển mạnh mẽ, là một trong những đòi hỏi cấp bách trong thời kỳ hiện nay của Việt Nam. Đất đai là một tài nguyên được đánh giá là “hiếm” do tốc độ tăng trưởng quá nhanh của đất nước.
Vì vậy việc chỉ ra hiệu quả của một dự án đầu tư bất động sản về khía cạnh kinh tẾ - xã hội, về mặt quy hoạch lâu dài đã trở thành một vấn đề có tầm quan trọng, đặc biệt là trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đã và đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế quốc tế và khu vực. Hiệu quả của một dự án đầu tư là toàn bộ mục tiêu đề ra của dự án, biểu hiện bằng các chỉ tiêu định tính (thể hiện ở các loại hiệu quả đạt được) và bằng các chỉ tiêu định lượng (thé hiện quan hệ giữa chi phí đã bỏ ra của dự án và các kết quả đạt được theo mục tiêu của dự án, bất kỳ dự án nào đều có mục tiêu và được thể hiện ở hai mức: mục tiêu phát triển và mục tiêu trực tiếp. - Mục tiêu phát triển thé hiện sự đóng góp của dự án vào việc thực hiện các mục tiêu chung của quốc gia, thông qua những lợi ích dự án mang lại cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội. - Mục tiêu trực tiếp của chủ đầu tư là mục tiêu cụ thể cần đạt được của việc thực hiện dự án, thông qua những lợi ích tài chính mà chủ đầu tư thu được từ dự án.
Phân tích tài chính của dự án đầu tư bat động sản Phân tích tài chính là một nội dung quan trọng trong quá trình lập dự án đầu tư. Phân tích tài chính nhằm đánh giá tính khả thi của dự án về mặt tài chính. Phân tích tài chính có vai trò quan trọng không chỉ đối với chủ đầu tư, mà còn cả đối với các cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư của Nha nước, các cơ quan tài trợ vốn cho dự án. Đối với chủ đầu tư: Phân tích tài chính cung cấp các thông tin cần thiết dé chủ đầu tư đưa ra quyết định có nên đầu tư không vì mục tiêu của các tổ chức và các cá nhân đầu tư là việc lựa chọn đầu tư vào đâu dé đem lại lợi nhuận thích đáng nhất.
Ngay cả các tổ chức kinh doanh phi lợi nhuận, phân tích tài chính cũng là một khía cạnh quan tâm. Các tổ chức này muốn tối giản 9 chỉ phí bỏ ra mà vẫn đạt được hiệu quả mong muốn, cũng như muốn đảm bảo về khoản tiền của mình khi dự án kết thúc. Đối với các cơ quan có thẩm quyền quyết định đầu tư của nhà nước: Phân tích này xem xét cho phép đầu tư đối với các dự án sử dụng nguồn vốn của Nhà nước. Đối với các cơ quan tài vốn cho dự án: Phân tích tài chính là căn cứ quan trọng để quyết định tài trợ vốn cho dự án.
Dự án chỉ có khả năng trả nợ khi dự án đó phải được đánh giá là khả thi về mặt tài chính. Có nghĩa là dự án đó phải đạt được hiệu quả tài chính và có độ an toàn cao về mặt tài chính.Các chỉ tiêu phân tích tài chính dự án đầu tư 1. Các chí tiêu đánh giá tiềm lực tài chính của doanh nghiệp - Hệ số vốn tự có so vốn di vay: Hệ số này phải lớn hơn hoặc bằng Đối với dự án có triển vọng, hiệu quả thu được là rõ ràng thì hệ s6 này có thé nhỏ hơn 1, vào khoảng 2/3 thì dự án thuận lợi. - Tỷ trọng vốn tự có trong tổng vốn đầu tư phải lớn hơn hoặc bằng 50%.
Đối với dự án có triển vọng, hiệu quả rõ ràng thì ty trong nay có thể là 40%, thì dự án thuận lợi. Như vậy, hai chỉ tiêu trên nói lên tiềm lực tài chính đảm bảo cho dự án thực hiện được thuận lợi. Các chí tiêu lợi nhuận thuần và thu nhập thuần của dự án Đây là các chỉ tiêu đánh giá quy mô lãi của dự án. Chỉ tiêu lợi nhuận thuần (W-Worth) được tinh cho từng năm hoặc từng giai đoạn hoạt động của đời dự án.
Lợi nhuận thuần từng năm (W; ) được tính như sau : 10 Wj¡=O, - C¡ Trong đó: O; : Doanh thu thuần năm i. Cj: Các chỉ phí ở năm i bao gồm tắt cả các khoản chỉ có liên quan đến sản xuất, kinh đoanh ở năm thứ i: Chí phí sản xuất, chỉ phí tiêu thụ sản phẩm, chỉ phí quản lý hành chính, chỉ phí khấu hao, chỉ phí trả lãi vốn vay, thuế thu nhập doanh nghiệp và chỉ phí khác. Tổng lợi nhuận thuần của cả đời dự án theo mặt bằng hiện tại có thể được xác định như sau: pv@)=а =W, ae a Ea | +W, ! +. +W, ! “gq+p" Lợi nhuận thuần bình quân.
Chỉ tiêu tông lợi nhuận thuần thường tính chuyển về mặt bằng hiện tại nên chỉ tiêu lợi nhuận thuần bình quân năm hoặc từng giai đoạn của đời dự án cũng thường tính theo mặt bằng thời gian ở hiện tại @W„„) với công thức tính như sau: >=, WW) = — " Trong thực tế lập dự án người ta có thể lấy mức lợi nhuận thuần ở năm hoạt động trung bình trong các năm của đời dự án làm chỉ tiêu lợi nhuận thuần bình quân. Tuy nhiên, mức độ chính xác không bằng áp dụng công thức trên. Người ta cũng có thể xem mức lợi nhuận san đều hàng năm là mức lợi nhuận bình quân theo công thức: or yds” W=Á, =,m) (i+ry"=1 11 Chỉ tiêu lợi nhuận thuần bình quân năm có tác dụng so sánh khi đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư.