MỞ ĐẦU Ty thể (mitochondria) là bào quan phổ biến ở các tế bào nhân chuẩn có lớp màng kép và hệ gene riêng. Ty thể đƣợc coi là trung tâm năng lượng của tế bào ví là nơi chuyển hóa các chất hữu cơ thành năng lƣợng tế bào có thể sử dụng đƣợc ATP. Ngoài ra, ty thể còn đóng vai trò quan trọng trong nhiều quá trính chuyển hóa khác nhƣ: Apoptosis, tổn thƣơng tế bào thần kinh do thoát các chất trung gian glutamate, tăng sinh tế bào, điều hòa trạng thái oxi hóa khử của tế bào, tổng hợp nhân heme, tổng hợp steroid, tạo nhiệt giúp giữ ấm cho có thể [12,36]. Hệ gen ty thể có chứa hàng trăm đến hàng nghín bản sao DNA ty thể (mtDNA), chúng có cấu trúc mạch vòng, kìch thƣớc khoảng 15000 – 17000 bp, chứa 37 gen mã hóa cho các protein trong chuỗi hô hấp, các tRNA và rRNA.
Tuy nhiên, ty thể dễ bị tổn thƣơng, có tỷ lệ đột biến cao hơn so với DNA nhân ví những lý do sau: (1) Ty thể có chứa một hệ gen độc lập với gen nhân, kìch thƣớc bé. (2) Do sự vắng mặt của các protein histone, cơ chế bảo vệ và sửa chữa DNA ở mức độ đơn giản. Đây là nguyên nhân chình gây nên các rối loạn của mtDNA và gây nên nhiều căn bệnh khác nhau [18]. Các bệnh do rối loạn mtDNA rất đa dạng có thể phát sinh do những đột biến ở gen nhân hoặc mtDNA, có thể liên quan đến rối loạn quá trính tổng hợp protein hay đơn thuần chỉ là những đột biến làm thay đổi các nucleotide.
Các rối loạn này có thể chỉ ảnh hƣởng đến một hoặc nhiều cơ quan trên cơ thể với mức độ biểu hiện khác nhau và có thể xảy ra ở bất cứ lứa tuổi nào [17]. Trong vài năm trở lại đây, những rối loạn ty thể liên quan đến đột biến mtDNA đƣợc xem là một trong những mục tiêu nghiên cứu cơ bản của di truyền học và y học. Đặc biệt, hƣớng nghiên cứu sử dụng mtDNA nhƣ một chỉ thị sinh học cho các bệnh chuyển hóa hiếm gặp, lão hóa, xác định các đặc tình di truyền quần thể sử dụng các dấu chuẩn di truyền của mẹ [1]. Cho đến nay, Trên 150 bệnh do rối loạn mtDNA đã đƣợc thống kê nhƣ: Bệnh thần kinh thị giác di truyền Leber, Bệnh thần kinh- cơ, suy gan, viêm não, liệt mắt tăng tiến mạn tình, đái tháo đƣờng và câm Đại học Khoa học Tự nhiên 1 K19 Sinh học TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ Hoàng Thị Thùy Dung điếc…Còn rất nhiều bệnh nghi ngờ là có liên quan đến rối loạn mtDNA đã và đang đƣợc các nhà khoa học nghiên cứu [17].
Đặc biệt là những nghiên cứu về đột biến mtDNA và mối liên quan đến các bệnh ung thƣ [8,9]. Với nhiều công trính khoa học đƣợc công bố trong khoảng hai thập niên qua đã chứng tỏ các đột biến mất đoạn 4977 bp là một loại đột biến thƣờng gặp trong hệ gen ty thể có vai trò nhất định đối với ung thƣ [10]. Trên cơ sở sự khác nhau về số bản sao DNA ty thể trong tế bào ung thƣ và tế bào bính thƣờng, có thể tiến hành định lƣợng đột biến mất đoạn mtDNA trong các khối u và dịch cơ thể. Nhƣ vậy, đột biến mất đoạn xảy ra trong mtDNA có thể là những chỉ thị sinh học tiềm năng, có tình ứng dụng cao trong chẩn đoán và điều trị ung thƣ ở giai đoạn sớm [23,24].
Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu: “Phân tích đột biến mất đoạn 4977 bp của DNA ty th ể ở bệnh nhân ung thƣ đại trực tràng” với mục đìch: Xác định đƣơ ̣c t ỷ lệ đột biến mất đoạn 4977 bp của mtDNA ở bệnh nhân ung thƣ đại trực tràng. Đánh giá mối liên quan giƣ̃a t ỷ lệ đột biến mất đoạn 4977 bp của mtDNA với các đặc điểm lâm sàng của bê ̣nh ung thƣ đ ại trực tràng ở ngƣời Việt Nam. Đề tài đƣợc thực hiện tại phòng Proteomics và Sinh học cấu trúc thuộc Phòng thì nghiệm Trọng điểm Công nghệ Enzym và Protein, Trƣờng Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội. Đại học Khoa học Tự nhiên 2 K19 Sinh học TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ Hoàng Thị Thùy Dung Chƣơng 1: TỔNG QUAN 1.
DNA TY THỂ Ty thể là những bào quan có thể đƣợc tím thấy trong gần nhƣ tất cả các tế bào có nhân, bao gồm cả thực vật, động vật, nấm và sinh vật nguyên sinh (Hình 1) [36]. Số lƣợng của ty thể hiện diện trong mỗi tế bào tùy thuộc vào nhu cầu chuyển hóa của tế bào đó và có thể thay đổi từ một ty thể lớn đến hàng ngàn ty thể khác nhau trong một Hình 1. Cấu tạo bào quan ty thể [51] tế bào. Cấu trúc của ty thể: Ty thể đƣợc mô tả lần đầu tiên bởi Altmann vào năm 1890 và sau đó, cấu trúc siêu hiển vi của ty thể đã đƣợc nghiên cứu chi tiết bởi Palade (1952) và Sjostrand (1953) [18].
Đây là bào quan có hính tròn hoặc hính trụ dài, có kìch thƣớc đƣờng kình 0,2-1 µm, chiều dài 2-5 µm. Toàn bộ cấu trúc của ty thể đƣợc bao bọc bởi hai lớp màng đều đƣợc cấu tạo bởi protein và lớp phospholipid kép. Tuy nhiên, mỗi màng có những đặc trƣng riêng khác nhau. Lớp màng ngoài bao trùm, tạo nên ranh giới ngoài của ty thể, lớp màng trong tạo thành các nếp gấp (mào - cristae) hƣớng vào tâm và là nơi khu trú của các enzyme hô hấp.
Các lớp màng chia ty thể thành hai khoang riêng biệt: khoang chứa chất nền (matrix) nằm bên trong ty thể và khoang gian màng nằm giữa hai lớp màng. Chất nền này tƣơng đối đậm đặc và có thể tím thấy các sợi DNA, ribosome hoặc các hạt nhỏ tại đây. Ty thể có thể mã hóa một phần các protein của chúng bằng chình bộ máy di truyền của riêng mính [18]. Thành phần hóa học của ty thể: protein chiếm khoảng 60 – 70% trọng lƣợng khô và tồn tại dƣới hai dạng khác nhau.
Một phần tham gia vào thành phần siêu cấu trúc của ty thể, phần khác hòa tan trong matrix, lipid chiếm khoảng 25–30% trọng lƣợng khô, chủ yếu là các phospholipid và phần ìt cholesterol, ARN khoảng 0,5- Đại học Khoa học Tự nhiên 3 K19 Sinh học TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ Hoàng Thị Thùy Dung 3%, DNA khoảng 0,024 – 0,34%. Ngoài ra, ty thể còn chứa một lƣợng lớn các hệ enzyme tham gia vào quá trính hô hấp của tế bào nhƣ: các cytochrome oxydase, succinate dehydrogenase, các enzyme của chuỗi chuyền điện tử NADP và NAD cytochrome reductase [18]. Hoạt động của ty thể: Màng trong ty thể vận chuyển các cơ chất tìch điện âm nhƣ ADP, ATP, phosphate, oxoglutarate, citrate, glutamate và malate. Các phản ứng của chu trính citric acid, quá trính ôxy hóa acid béo và một vài giai đoạn của quá trính tổng hợp urea cũng nhƣ tân tạo đƣờng cũng xảy ra trong ty thể.
Năng lƣợng đƣợc sản xuất bởi quá trính hô hấp ty thể đƣợc sử dụng trong tổng hợp ATP bởi một cơ chế rất phức tạp gọi là quá trính phosphoryl hóa ôxy hóa (oxidative phosphorylation). Ngoài quá trính phosphoryl hóa ôxy hóa và các con đƣờng chuyển hóa, ty thể còn tham gia vào các quá trính khác nhƣ quá trính sinh nhiệt, tạo gốc tự do, cân bằng calcium, tổng hợp protein và quá trính chết theo chu trính của tế bào (apoptosis)[12,18]. Sự sinh sản của ty thể: Ví ty thể có hệ di truyền độc lập nên ty thể có khả năng tự sinh sản bằng các phân đôi ty thể mẹ để sinh ra các ty thể con. thời gian để đổi mới một nửa số lƣợng ty thể trong tế bào khoảng 10 ngày.
Ví rằng mtDNA giống với DNA vi khuẩn về kìch thƣớc và thành phần rARN cũng nhƣ có sự giống nhau về cơ chế tổng hợp protein giữa ty thể và vi khuẩn nên các nhà tế bào học cho rằng ty thể là kết quả của sự cộng sinh của dạng vi khuẩn hiếu khì trong tế bào trong quá trính tiến hoá sơ khai của tế bào Eucaryota [3]. Cấu trúc genome ty thể Trong hầu hết các sinh vật đa bào, mtDNA có cấu trúc sợi đôi, mạch vòng (Hình 2). Hai sợi đơn của phân tử mtDNA đƣợc phân biệt dựa vào hàm lƣợng Nucleotide, trong đó sợi giàu Guanine đƣợc gọi là sợi nặng và sợi giàu Cytosine là sợi nhẹ. Tuy nhiên, ở nhiều sinh vật đơn bào nhƣ động vật nguyên sinh có tiêm mao Tetrahymena hay tảo xanh Chlamydomonas reinhardtii và một vài trƣờng hợp hiếm gặp ở sinh vật đa bào nhƣ một số loài Ruột khoang, mtDNA có cấu trúc mạch thẳng [51].
Đại học Khoa học Tự nhiên 4 K19 Sinh học TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ Hoàng Thị Thùy Dung Hình 2: Sơ đồ cấu tạo mtDNA người [51,52] Ở động vật đa bào nói chung, một ty thể chứa khoảng 10 bản sao của mtDNA, nên trong mỗi tế bào có khoảng 100 – 10.000 bản sao mtDNA(tế bào trứng và tinh trùng là 2 trƣờng hợp ngoại lệ), các bản sao này tồn tại độc lập và phân bố tự do trong ty thể hoặc có khi bám vào màng trong ty thể và mỗi phân tử mtDNA sợi đôi có kìch thƣớc khoảng 15. Ở ngƣời, mtDNA có kìch thƣớc 16.569 cặp bazơ, bao gồm 28 gen phân bố trên sợi nặng và 9 gen phân bố trên sợi nhẹ. Bảng 1: 13 gen mã hóa cho các protein tham gia chuỗi hô hấp tế bào[7] Gen mã hóa Protein MTND1, MTND2, MTND3, MTND4, NADH dehydrogenase MTND4L, MTND5, MTND6 (Phức hệ I) Coenzyme Q Cytochrome c MTCYTb reductase / Cytochrome b (Phức hệ III) MTCOI, MTCOII, MTCOIII Cytochrome c oxidase (Phức hệ IV) MTATP6 , MTATP8 ATP synthase Trong số 37 gen này, có 13 gen mã hóa cho protein tham gia vào chuỗi hô hấp tế bào (Bảng 1), 22 gen mã hóa cho tRNA (Bảng 2), 2 gen mã hóa cho rRNA là MT-RNR1(mã hóa tiểu đơn vị nhỏ 12S) và MT-RNR2 (mã hóa tiểu đơn vị lớn 16s). 13 chuỗi polypeptide đƣợc mã hóa bởi DNA ty thể là thành phần của phức hệ hô hấp của ty thể, trong đó có 7 tiểu phần (ND1, 2, 3, 4L, 4, 5, 6) trong số 46 chuỗi polypepetide của phức hệ I (NADH dehydrogenase), 1 tiểu phần (cytochrome b - Đại học Khoa học Tự nhiên 5 K19 Sinh học TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ Hoàng Thị Thùy Dung Cytb) trong số 11 chuỗi polypeptide của phức hệ III (Phức hệ bc1), 3 tiểu phần (CO I, II, III) trong số 13 polypeptide của phức hệ IV (cytochrome c oxidase) và 2 tiểu phần (ATPase 6 và 8) trong số 16 polypeptide của phức hệ V (ATP synthase) [7].