phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1 : Cơ sở lí luận. Chƣơng 2 : Đặc điểm cấu trúc của diễn ngôn do trẻ em viết trong chuyên mục “Cƣời Vui” của Báo Nhi Đồng. Chƣơng 3 : Đặc điểm sử dụng ngôn ngữ trong diễn ngôn do trẻ em viết trong chuyên mục “Cƣời Vui” của Báo Nhi Đồng. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN 1.Khái niệm diễn ngôn Hiện nay, có rất nhiều cách định nghĩa về khái niệm diễn ngôn.
Ngƣời đầu tiên đề xƣớng khái niệm diễn ngôn là Z.Harris (1952) – một nhà ngôn ngữ học thuộc trƣờng phái miêu tả luận Mĩ. Trong công trình “Discourse Analysis” (Phân tích diễn ngôn), ông đã đƣa ra tên gọi “diễn ngôn” với cách hiểu là văn bản liên kết, ở bậc cao hơn câu. Đồng thời, đƣa ra hai kết luận nổi bật về phân tích diễn ngôn là: “tiếp tục ngôn ngữ học miêu tả vƣợt ra ngoài các giới hạn của câu đơn một thời” và “làm cho ngôn ngữ và văn hóa liên thông với nhau”.: Đánh giá về công trình này, nhà nghiên cứu Cook cho rằng công lao của Harris rất lớn, và những kết luận của ông trong công trình “Phân tích diễn ngôn” cực kỳ đáng chú ý. Năm 1970, Barthes cũng đƣa ra một định nghĩa về “diễn ngôn”.
Theo ông, diễn ngôn là “một đoạn lời nói hữu tận bất kì, tạo thành một thể thống nhất xét từ quan điểm đến nội dung, đƣợc truyền đạt cùng với những mục đích giao tiếp thứ cấp, và có một tổ chức nội tại phù hợp với mục đích này, vả lại (đoạn lời này) gắn bó với những nhân tố văn hóa khác nữa, ngoài những nhân tố có quan hệ đến bản thân ngôn ngữ” [dẫn theo 1, tr. Trong định nghĩa này, bên cạnh việc nhắc đến cấu tạo, nội dung, mục đích của diễn ngôn, Barthes cũng nhấn mạnh về mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa thể hiện trong diễn ngôn. Định nghĩa về “diễn ngôn” còn đƣợc các tác giả đề cập thông qua thế đối sánh với thuật ngữ “văn bản”. Trên thực tế, để phân định rạch ròi hai khái niệm này không hề đơn giản.
Có khi chúng đƣợc các nhà nghiên cứu coi là hai khái niệm có cấu trúc xác định tách biệt hoàn toàn, thuộc hai quá trình; có khi khái niệm này là sự biểu hiện cụ thể, là bộ phận của khái niệm kia; cũng có khi chúng đƣợc dùng thay thế cho nhau nhƣ hai khái niệm đồng nghĩa 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hoàn toàn. So sánh cách hiểu về “văn bản” và “diễn ngôn” của mỗi tác giả sẽ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về diễn ngôn. Trong cuốn “Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản”, tác giả Diệp Quang Ban đã đƣa ra tổng quan về các giai đoạn trong việc dùng thuật ngữ “văn bản” và “diễn ngôn” : “Giai đoạn đầu, tên gọi văn bản đƣợc dùng để chỉ chung những sự kiện nói bằng chữ viết và sự kiện nói miệng có mạch lạc và liên kết. Giai đoạn thứ hai có xu hƣớng dùng văn bản để chỉ sự kiện nói bằng chữ viết (lời chữ), còn diễn ngôn chỉ sự kiện nói miệng (lời âm).
Giai đoạn hiện nay, diễn ngôn đƣợc dùng nhƣ văn bản ở giai đoạn đầu, tức là dùng để chỉ chung cả sự kiện nói miệng lẫn sự kiện nói bằng chữ viết.212] Trong khuynh hƣớng tách biệt 2 thuật ngữ “diễn ngôn” và “văn bản” có thể kể đến hai tác giả Brown và Jule trong cuốn “Discoure Analysis” (phân tích diễn ngôn). Hai tác giả quan niệm rằng “văn bản nhƣ là một thuật ngữ khoa học để chỉ dữ liệu ngôn từ của một hành vi giao tiếp” hay “văn bản là sự biểu hiện của diễn ngôn” và phân biệt “văn bản” – là “sản phẩm” (text – as - process) còn “diễn ngôn” – là – “quá trình” (discourse - process) [17, tr.22] Sau đó, David Nunan cũng có khuynh hƣớng phân biệt rạch ròi hai khái niệm này. Ông quan niệm thuật ngữ “văn bản” đƣợc dùng để chỉ bất kì cái gì ghi bằng chữ viết của một sự kiện giao tiếp; sự kiện đó tự nó có thể liên quan đến ngôn ngữ nói (một cuộc thoại, một bài thuyết giáo) hoặc ngôn ngữ viết (một bài thơ, một mẩu chuyện). Còn về thuật ngữ “diễn ngôn”, ông cho rằng nó đƣợc dùng để giải thuyết sự kiện giao tiếp trong ngữ cảnh.
[dẫn theo 4, tr.18] Trong xu hƣớng không tách biệt hoàn toàn hai khái niệm, tác giả Crystal (1992) cho rằng: “Văn bản là một sản phẩm diễn ngôn xuất hiện một cách tự nhiên dƣới dạng nói, viết, hoặc một diễn ngôn bằng kí hiệu, đƣợc nhận dạng vì những mục đích phân tích. Nó thƣờng là một chỉnh thể ngôn 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ngữ với một chức năng giao tiếp có thể xác định đƣợc, ví dụ nhƣ một cuộc thoại, một tờ áp phích”. “Diễn ngôn là một chuỗi nối tiếp của ngôn ngữ (đặc biệt là ngôn ngữ nói) lớn hơn một câu, thƣờng cấu thành một chỉnh thể có tính mạch lạc, kiểu nhƣ một bài thuyết giáo, lời tranh luận, truyện vui hoặc truyện kể” [dẫn theo 1, tr. Nhƣ vậy, ở đây mặc dù tác giả không đồng nhất hai khái niệm trên song dƣờng nhƣ cũng không có sự phân định rành mạch ranh giới giữa chúng.
Những ví dụ về văn bản là một cuộc thoại, một tờ áp phích, còn ví dụ về diễn ngôn là bài thuyết giáo, lời tranh luận, truyện vui, truyện kể, khiến cho nhận định về ranh giới của “văn bản” và “diễn ngôn” của Crystal trở nên mơ hồ, không định rõ. Ở Việt Nam, cũng có rất nhiều tác giả quan tâm đến vấn đề này và tất nhiên cũng tồn tại nhiều quan điểm khác nhau. Tiêu biểu nhƣ các nhà nghiên cứu Trần Ngọc Thêm, Nguyễn Đức Dân, Đỗ Hữu Châu, Hoàng Phê, Nguyễn Thiện Giáp, Diệp Quang Ban, Nguyễn Hòa. Đỗ Hữu Châu quan niệm mỗi diễn ngôn có thể do một hoặc một số hành vi ngôn ngữ tạo ra.
Diễn ngôn có nội dung thông tin và nội dung liên cá nhân, hai nội dung này thống nhất với nhau thể hiện các chức năng khác nhau của giao tiếp trong diễn ngôn. Một diễn ngôn gồm nhiều phát ngôn, các phát ngôn này gắn bó với nhau, lệ thuộc nhau ở mức độ nhất định về nội dung và hình thức. Tác giả Nguyễn Thiện Giáp trong công trình “Giáo trình ngôn ngữ học” xuất bản năm 2008 quan niệm rằng: “Diễn ngôn là bất cứ một ngôn phẩm nói hoặc viết nào. Mỗi diễn ngôn có thể đƣợc một ngƣời nói hoặc ngƣời viết riêng biệt tạo ra, cũng có thể đƣợc hai hoặc hơn hai ngƣời tham gia hội thoại hoặc trao đổi viết với nhau tạo ra.
Thuật ngữ “diễn ngôn” đƣợc các nhà khoa học sử dụng không hoàn toàn giống nhau, nhƣng giữa chúng vẫn có một điểm chung, đó là đều chỉ các ngôn phẩm, viết hoặc nói, dài hay ngắn, tạo nên một tổng thể hợp nhất, có chức năng giao tiếp xác định. Thuật ngữ “văn bản” thƣờng đƣợc dùng với nghĩa nhƣ diễn ngôn, nghĩa là đƣợc dùng để chỉ tất cả 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com những đơn vị ngôn ngữ, bất kể nói hay viết, có mạch lạc và liên kết với chức năng giao tiếp xác định. Một số nhà khoa học nói về diễn ngôn nói và diễn ngôn viết, số khác lại nói về văn bản nói và văn bản viết. Hai thuật ngữ này coi nhƣ đồng nghĩa, có thể thay thế cho nhau" [21, tr.
Nhƣ vậy, Nguyễn Thiện Giáp đồng nhất văn bản và diễn ngôn. Một trong số các tác giả khác ở Việt Nam cũng dành nhiều sự quan tâm cho vấn đề này là Nguyễn Hoà. Quan điểm của ông đƣợc khái quát lại trong công trình “Phân tích diễn ngôn: Một số vấn đề lí luận và phƣơng pháp”. Trong đó, ông tỏ ra nhấn mạnh sự phân biệt hai khái niệm “diễn ngôn” và “văn bản”.
Theo ông, văn bản nhƣ là sản phẩm ngôn ngữ ghi nhận lại quá trình giao tiếp hay sự kiện giao tiếp nói và viết trong một hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể, trong khi đó diễn ngôn nhƣ là sự kiện hay quá trình giao tiếp hoàn chỉnh thống nhất có mục đích không giới hạn đƣợc sử dụng trong các hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể. Mặc dù đã đƣa ra sự phân biệt đó cũng chỉ mang tính tƣơng đối so với thực tế. Vì theo cách hiểu đó, ở văn bản sẽ xuất hiện một vài đặc trƣng của diễn ngôn và ngƣợc lại, ở diễn ngôn nhiều khi cũng tồn tại các thuộc tính của văn bản. Nguyễn Hoà cho rằng đây không phải hai thực thể độc lập, hoàn toàn tách biệt nhau mà chỉ là một thực thể biểu hiện của ngôn ngữ hành chức trong bối cảnh giao tiếp cụ thể.
Nói cách khác, tuỳ theo quan điểm của ngƣời nghiên cứu mà ngôn ngữ sẽ đƣợc coi là “văn bản” khi xem xét dƣới góc độ hình thức và đƣợc coi là “diễn ngôn” khi xem xét dƣới góc độ hành chức [22, tr. Tổng kết lại, có thể thấy Đỗ Hữu Châu dùng diễn ngôn để chỉ ngôn ngữ đang hoạt động, ngôn ngữ trong sử dụng, ngôn ngữ trong ngữ cảnh. Nguyễn Thiệp Giáp và Nguyễn Hòa, Diệp Quang Ban đều đồng nhất khái niệm diễn ngôn và văn bản, hoặc coi chúng không phải là hai thực thể tách biệt. Tuy mỗi tác giả có một quan điểm và cách kiến giải khác nhau, nhƣng khó có thể nói quan điểm nào đúng hay sai hoàn toàn.
Mỗi quan điểm lại có một điểm mạnh riêng trong phân tích diễn ngôn. Đúng nhƣ tác giả Schiffrin (1994) đã nhận 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com xét: “Mặc dù phân tích diễn ngôn là một lĩnh vực ngày càng trở nên quan trọng và đƣợc nhiều ngƣời quan tâm bởi cả hai – bởi chính bản thân nó và bởi nó có thể cung cấp cho chúng ta rất nhiều nội dung về ngôn ngữ xã hội, văn hóa và tƣ tƣởng – song phân tích diễn ngôn vẫn còn là một tiểu lĩnh vực rộng mênh mông và ít nhiều còn mơ hồ của ngôn ngữ học” [dẫn theo 22, tr.17] Tham khảo và tiếp thu ý kiến của các nhà nghiên cứu, trong Luận văn này, chúng tôi cũng đƣa ra một quan điểm có tính chất làm việc cho rằng: Diễn ngôn và văn bản là hai khái niệm đồng nhất với nhau, có thể dùng thay thế cho nhau. Đây là một định nghĩa mang tính chất làm việc chứ không phải theo để phủ nhận các quan điểm khác, vì ngay trong bản thân mỗi tác giả trong các luận điểm của mình cũng đều có sự dung hoà tƣơng đối với các quan điểm khác. Khái niệm “phân tích diễn ngôn” Từ những quan niệm “diễn ngôn” khác nhau nên mỗi tác giả lại có một cách hiểu về “phân tích diễn ngôn” khác nhau.