phần mở đầu, kết luận và các phụ lục đi kèm, nội dung chính đƣợc triển khai theo bốn chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan và cơ sở lý luận Chƣơng này, luận án trình bày hai nội dung lớn: Phần một trình bày tổng quan các vấn đề nghiên cứu về phân tích diễn ngôn và các nghiên cứu về ngôn ngữ, sản phẩm ngôn từ cụ thể của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phần hai trình bày các vấn đề lý thuyết làm tiền đề cho việc phân tích, nghiên cứu của đề tài luận án. Đó là các vấn đề sau: Lý luận về diễn ngôn, phân tích diễn ngôn, quan niệm giao tiếp của Roman Jakobson, một số vấn đề khái quát về hành động ngôn từ, diễn ngôn chính trị và các diễn ngôn có chức năng kêu gọi của Hồ Chủ tịch.
Phân tích diễn ngôn có nội dung kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ bình diện thông điệp Chƣơng này tiếp cận đối tƣợng nghiên cứu từ hai phƣơng diện: nội dung thông tin và cấu trúc thông điệp. Luận án phân tích nguyên tắc để có đƣợc thông điệp hiệu quả, chỉ ra các chủ đề chính của các diễn ngôn của Hồ chủ tịch. Từ phƣơng diện truyền thông, luận án đặt ra vấn đề về nội dung thông điệp, phân tích việc sử dụng ngôn ngữ trong thông điệp và tính minh bạch trong các thông điệp kêu gọi. Về cách tổ chức thông điệp, luận án mô tả và phân tích những nét đặc trƣng trong cấu trúc diễn ngôn có nội dung kêu gọi của Hồ chủ tịch, từ đó chỉ ra cấu trúc điển hình của diễn ngôn có nội dung kêu gọi của Hồ chủ tịch.
Về phƣơng thức tổ chức nội dung luận án coi lập luận là phƣơng thức quan trọng nhất. Do đó, chƣơng 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com này cũng dành để nghiên cứu và phân tích một số kiểu lập luận trong diễn ngôn kêu gọi nhằm làm rõ hiệu quả, hiệu lực của lập luận, và khả năng tác động mạnh mẽ của ngôn từ mà Ngƣời sử dụng, đồng thời, bổ sung thêm cách nhìn về phong cách ngôn ngữ và tƣ tƣởng của Hồ Chí Minh. Phân tích diễn ngôn có nội dung kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ bình diện liên nhân Chƣơng này, luận án thực hiện phân tích ngữ cảnh, chức năng tác động trong mối tƣơng quan với các tiểu chức năng ngôn ngữ khác của R. Jakobson, các hành động ngôn từ tiêu biểu, phƣơng tiện tình thái từ bình diện liên nhân.
Luận án phân tích một số vấn đề của phân tích diễn ngôn phê phán mà trong đó trọng tâm là quyền lực phát ngôn và các biểu hiện của quyền lực qua chiến lƣợc giao tiếp, cách thức xƣng hô. Nghiên cứu trƣờng hợp: Phân tích diễn ngôn có nội dung kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua ba sản phẩm cụ thể Từ những lý thuyết và phân tích ở các chƣơng trƣớc, chƣơng này dành để nghiên cứu các trƣờng hợp cụ thể nhằm làm rõ hơn các vấn đề ngữ cảnh tình huống, hành động ngôn từ và lập luận trong các diễn ngôn có nội dung kêu gọi của Hồ chủ tịch. Ba sản phẩm đƣợc chọn phân tích ra đời ở những giai đoạn lịch sử quan trọng của đất nƣớc, của cách mạng: Thƣ kêu gọi tổng khởi nghĩa (1945); Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (1946); Không có gì quý hơn độc lập tự do (1966). Luận án cũng dành một mục ở chƣơng này để đƣa ra một vài bàn luận về nét đặc sắc trong phong cách ngôn ngữ cá nhân của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua diễn ngôn kêu gọi.
16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1. TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan tình hình các nghiên cứu liên quan tới luận án 1.Tình hình nghiên cứu phân tích diễn ngôn ở ngoài nước Cuối những năm 50 thế kỉ XX, một số nhà ngôn ngữ học đã nghiên cứu những hiện tƣợng trên câu, ngoài câu và nêu ra những khái niệm về đơn vị ngôn ngữ trên câu này. Từ đây, một ngành nghiên cứu mới bắt đầu xuất hiện, đồng thời báo hiệu một hƣớng đi, hƣớng nghiên cứu mới đầy hấp dẫn, gắn chặt với hoạt động ngôn ngữ.
Thuật ngữ diễn ngôn (Discourse) đƣợc thừa nhận xuất hiện lần đầu tiên trong bài báo "Phân tích diễn ngôn" của Z. Harris (1952), sau đó đƣợc nhiều nhà ngôn ngữ học tiếp tục phát triển. Trong bài báo, ông đã phân tích một quảng cáo về dầu gội dƣỡng tóc, phân tích của ông bao gồm xem xét quy tắc có thể giải thích đƣợc của câu và mối quan hệ giữa câu. Thảo luận này còn liên quan đến các vấn đề nhƣ ngôn ngữ và văn hóa, diễn ngôn và ngữ cảnh xã hội.
Trong bài báo đó, Harris cho rằng có hai phƣơng pháp phân tích diễn ngôn, một là có thể thông qua giới hạn câu mô tả ngôn ngữ; hai là nghiên cứu quan hệ giữa văn hóa và ngôn ngữ. Do Harris là ngƣời theo chủ nghĩa cấu trúc nên ông ít quan tâm đối với các phƣơng diện ngôn ngữ và văn hóa, ngôn ngữ và ngữ cảnh xã hội. Dù là ngƣời sáng tạo ra thuật ngữ "Phân tích diễn ngôn" nhƣng bài báo của ông vẫn chƣa có ảnh hƣởng nhiều ở lĩnh vực phân tích diễn ngôn lúc đó. Song ông đã góp phần quan trọng trong việc chuyển đổi đối tƣợng nghiên cứu của ngôn ngữ học văn bản từ câu sang diễn ngôn, hƣớng nghiên cứu vào chức năng của ngôn ngữ.
Đánh giá về vấn đề này, Coulthard (1977/1985) cho rằng: tiêu đề bài báo của Harris rất có sức thu hút nhƣng trên thực tế lại làm cho ngƣời ta thất vọng, phƣơng pháp phân tích mà ông đề ra lúc đó cũng chƣa có ai quan tâm (dẫn theo Diệp Quang Ban) [8, 150]. Từ những năm 60 lại đây, rất nhiều nghiên cứu của các học giả đã thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của PTDN. Vào những năm 1970, những chuyên luận đầu tiên và những công trình tập thể dành hoàn toàn hoặc một phần cho diễn ngôn – phân tích nhƣ một lĩnh vực tri thức liên ngành lần lƣợt xuất hiện. Từ đây, nghiên cứu về diễn ngôn đạt tới vị thế của một khoa học độc lập.
Đƣợc coi là ngƣời có công truyền bá PTDN, Van Dijk đã có nhiều công hiến to lớn về phƣơng diện nghiên cứu PTDN. Nghiên cứu ban đầu của ông thƣờng đƣợc 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com gọi là "ngữ pháp văn bản" (Text grammar). Năm 1972, Van Dijk xuất bản cuốn "Some aspects of text grammar" (Một số phƣơng diện của ngữ pháp văn bản). De Beaugrande đã nhận định: năm 1979 đƣợc coi nhƣ cái mốc phân chia hai giai đoạn giữa nghiên cứu văn bản và diễn ngôn, là điểm kết thúc để tìm ra tên gọi cho giai đoạn tiếp theo.
Từ những năm 80 thế kỷ XX trở lại đây, tốc độ phát triển của phân ngành PTDN, cả về chiều sâu và chiều rộng đã làm cho nhiều ngƣời phải nhìn nhận và quan tâm. Halliday và Hassan (1976) chỉ ra: mục đích của tiến hành phân tích diễn ngôn không phải là "chứng minh" mà là "giải thích". Có thể thấy, tiến hành chứng minh với một diễn ngôn, mục đích là làm rõ nội dung của nó, xem nó biểu thị ý nghĩa gì, còn với một diễn ngôn khi tiến hành giải thích, chính là phải làm rõ diễn ngôn biểu đạt ý nghĩa nhƣ thế nào chứ không phải ý nghĩa nào khác. Từ năm 1994, Halliday đã cho rằng, phân tích diễn ngôn có hai mục tiêu không cùng cấp độ.
Cấp độ thấp là làm rõ ý nghĩa của diễn ngôn mà chính bản thân nó biểu đạt; thông qua phân tích ngôn ngữ để chứng minh diễn ngôn biểu đạt ý nghĩa nhƣ thế nào và tại sao lại biểu đạt ý nghĩa nhƣ vậy. Cách phân tích này có thể cho thấy tính đa nghĩa, tính khác nghĩa và tính ẩn dụ của diễn ngôn. Phân tích ở cấp độ này nếu dựa vào hệ thống ngữ pháp nhất định, nên không khó đạt đƣợc mục tiêu. Cấp độ cao hơn so với mục tiêu này là tiến hành đánh giá với diễn ngôn: thông qua phân tích ngôn ngữ, diễn ngôn có thể chỉ ra vì sao một diễn ngôn nào đó đạt đƣợc (hoặc không đạt đƣợc) mục đích của nó; cũng có thể chỉ ra diễn ngôn này thành công ở phƣơng diện nào, thất bại hay không thành công ở phƣơng diện nào.
Mục tiêu này không dễ đạt đƣợc, nó không những cần phải phân tích đối với bản thân diễn ngôn mà cón phải xem xét đến ngữ cảnh văn hóa và ngữ cảnh tình huống của diễn ngôn, đồng thời còn phải nghiên cứu thảo luận các mối quan hệ giữa diễn ngôn và ngữ cảnh. Công trình "Dẫn nhập phân tích diễn ngôn" của David Nunan nhằm vào ngôn ngữ trong sử dụng thực tế. Nunan giới thiệu những khái niệm cơ bản trong lĩnh vực phân tích diễn ngôn: diễn ngôn, văn bản, phân tích diễn ngôn, liên kết, mạch lạc. Yule đƣợc cho là những ngƣời có đặc quyền trong lĩnh vực PTDN.
Cuốn "Phân tích diễn ngôn" (1983) là công trình bao quát về phạm vi, phƣơng pháp nghiên cứu đề tài cụ thể. Các tác giả đã đƣa ra các vấn đề về cơ sở lý thuyết, phƣơng pháp, đối tƣợng, công cụ, thuật ngữ của nghiên cứu PTDN. Đó là 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com việc chuyển từ việc nghiên cứu ở bậc câu sang nghiên cứu mặt nghĩa của diễn ngôn, đƣa ra việc khai thác diễn ngôn từ những phƣơng diện khác nhau. Phƣơng pháp dựa hẳn vào ngữ cảnh tình huống.
Đối tƣợng và các vấn đề giúp lý giải đƣợc diễn ngôn đều đƣợc xuất phát từ thực tế. Vì lẽ đó, công trình này đã đƣợc nhiều ngƣời dẫn nguồn trong các nghiên cứu liên quan tới phân tích diễn ngôn của họ. Đồng thời, từ đây, PTDN đã thực sự đƣợc thừa nhận rộng rãi cho giai đoạn tiếp theo của ngữ pháp văn bản. Deborah Schiffin (1994) đã giới thiệu sáu cách có thể tiếp cận PTDN trong cuốn "Approaches to Discuorse" (Các phƣơng pháp tiếp cận diễn ngôn): lý thuyết hành vi ngôn ngữ, ngôn ngữ học xã hội tƣơng tác, văn hóa học giao tiếp, ngữ dụng học, phân tích hội thoại, phân tích biến đổi, và dùng chúng vào thực tiễn PTDN.
Sara Mills trong cuốn Discourse (The New Critical Idiom) (2004) đã phân tích một cách sâu rộng về diễn ngôn và những giả thuyết xung quanh nó. Mills xem xét và nghiên cứu về diễn ngôn và quá trình phát triển của diễn ngôn, phân tích diễn ngôn. Mills cho rằng thuật ngữ diễn ngôn có phạm vi nghĩa rộng nhất so với các thuật ngữ khác thuộc lí luận văn học và văn hóa. Nó là đối tƣợng nghiên cứu của rất nhiều lĩnh vực: ngôn ngữ học, tâm lý học, xã hội học, văn học.