Luận án tiến sĩ phân tích diễn ngôn có nội dung kêu gọi của chủ tịch hồ chí minh giai đoạn 1941 1969

Luận án tiến sĩ phân tích phân tích diễn ngôn có nội dung kêu gọi của chủ tịch hồ chí minh giai đoạn 1941 1969, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp tri thức

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2017

198
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

BẢNG TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC SƠ ĐỒ

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

2. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4. Phƣơng pháp nghiên cứu

5. Đóng góp của luận án

6. Bố cục luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1. Tổng quan tình hình các nghiên cứu liên quan tới luận án

1.1.1. Tình hình nghiên cứu phân tích diễn ngôn ở ngoài nước

1.1.2. Tình hình nghiên cứu phân tích diễn ngôn trong nước

1.1.3. Tình hình nghiên cứu ngôn ngữ của Chủ tịch Hồ Chí Minh

1.2. Cơ sở lý luận có liên quan đến luận án

1.2.1. Cơ sở lý luận về diễn ngôn

1.2.2. Phân tích diễn ngôn

1.2.3. Quan niệm về giao tiếp của Roman Jakobson

1.2.4. Một số vấn đề về hành động ngôn từ

1.2.5. Cơ sở về phân tích diễn ngôn chính trị

1.2.6. Diễn ngôn có nội dung kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh

1.3. Tiểu kết chƣơng 1

2. CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN CÓ NỘI DUNG KÊU GỌI CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TỪ BÌNH DIỆN THÔNG ĐIỆP

2.1. Thông điệp ngôn từ

2.1.1. Thông điệp ngôn từ của Chủ tịch Hồ Chí Minh

2.1.2. Nguyên tắc thông điệp trong diễn ngôn kêu gọi

2.2. Thông điệp từ diễn ngôn kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh

2.2.1. Tính minh bạch của thông điệp kêu gọi

2.2.2. Các chủ đề lớn trong diễn ngôn kêu gọi

2.3. Cấu trúc diễn ngôn của Chủ tịch Hồ Chí Minh

2.3.1. Cấu trúc chung diễn ngôn kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh

2.3.2. Các kiểu cấu trúc diễn ngôn kêu gọi

2.3.3. Câu hô gọi trong cấu trúc diễn ngôn kêu gọi

2.3.3.1. Câu hô gọi
2.3.3.2. Vị trí câu hô trong cấu trúc diễn ngôn
2.3.3.3. Các từ dùng để hô gọi

2.4. Lập luận trong các diễn ngôn kêu gọi

2.4.1. Các kiểu lập luận trong diễn ngôn kêu gọi

2.4.2. Hiệu quả của lập luận trong diễn ngôn kêu gọi

2.5. Tiểu kết chƣơng 2

3. CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN CÓ NỘI DUNG KÊU GỌI CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH TỪ BÌNH DIỆN LIÊN NHÂN

3.1. Ngữ cảnh của diễn ngôn

3.1.1. Ngữ cảnh tình huống của diễn ngôn kêu gọi

3.1.2. Ngữ cảnh văn hóa của diễn ngôn kêu gọi

3.2. Bình diện tác động của diễn ngôn kêu gọi qua phân tích mô hình chức năng của Roman Jakobson

3.2.1. Chức năng quy chiếu

3.2.2. Chức năng biểu cảm

3.2.3. Chức năng thơ

3.2.4. Chức năng kêu gọi

3.2.5. Chức năng duy trì sự tiếp xúc

3.3. Hành động ngôn từ tiêu biểu trong các diễn ngôn kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh

3.3.1. Hành động ngôn từ trong diễn ngôn kêu gọi

3.3.2. Hành động kêu gọi

3.3.3. Hành động khuyên bảo

3.3.4. Hành động khuyến nghị

3.4. Chức năng liên nhân qua tình thái phát ngôn trong diễn ngôn kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh

3.4.1. Tình thái trong các diễn ngôn kêu gọi

3.4.2. Các phụ từ tình thái trong diễn ngôn

3.4.3. Các vị từ tình thái

3.5. Quyền lực phát ngôn thể hiện trong diễn ngôn kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh

3.5.1. Quyền lực phát ngôn

3.5.2. Quyền lực biểu hiện qua chiến lược giao tiếp

3.5.3. Quyền lực biểu hiện qua cách thức xưng hô

3.6. Tiểu kết chƣơng 3

4. CHƯƠNG 4: NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP: PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN CÓ NỘI DUNG KÊU GỌI CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH QUA BA SẢN PHẨM CỤ THỂ

4.1. Lý do lựa chọn

4.2. Giới thiệu về sản phẩm ngôn từ cụ thể

4.3. Diễn ngôn “Thƣ gửi kêu gọi tổng khởi nghĩa"

4.3.1. Ngữ cảnh tình huống

4.3.2. Cấu trúc diễn ngôn “Thư gửi kêu gọi tổng khởi nghĩa"

4.3.3. Hành động ngôn từ trong diễn ngôn “Thư gửi kêu gọi tổng khởi nghĩa"

4.3.4. Lập luận trong diễn ngôn “Thư gửi kêu gọi tổng khởi nghĩa"

4.4. Diễn ngôn “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”

4.4.1. Ngữ cảnh tình huống

4.4.2. Cấu trúc diễn ngôn Diễn ngôn “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”

4.4.3. Hành động ngôn từ Diễn ngôn “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”

4.4.4. Lập luận diễn ngôn “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”

4.5. Diễn ngôn “Không có gì quý hơn độc lập tự do”

4.5.1. Ngữ cảnh tình huống

4.5.2. Cấu trúc diễn ngôn “Không có gì quý hơn độc lập tự do”

4.5.3. Hành động ngôn từ diễn ngôn “Không có gì quý hơn độc lập tự do”

4.5.4. Lập luận trong diễn ngôn “Không có gì quý hơn độc lập tự do”

4.6. Bàn luận về những sáng tạo, nét độc đáo trong phong cách cá nhân của Chủ tịch Hồ Chí Minh

4.6.1. Tính chuẩn mực, giản dị

4.6.2. Dùng lối nói của quần chúng

4.6.3. Châm biếm, hài hước

4.6.4. Sử dụng thành ngữ, tục ngữ

4.7. Tiểu kết chƣơng 4

DANH MỤC BÀI BÁO, CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN TỚI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Cách tiếp cận tổng quan về phân tích diễn ngôn kêu gọi của Hồ Chí Minh

Phân tích diễn ngôn kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh giai đoạn 1941-1969 là lĩnh vực nghiên cứu quan trọng trong ngôn ngữ học và lịch sử cách mạng Việt Nam. Diễn ngôn kêu gọi không chỉ là sản phẩm ngôn ngữ mà còn là công cụ tuyên truyền chính trị, vận động quần chúng, thể hiện tư tưởng và phong cách ngôn ngữ đặc sắc của Người. Phân tích diễn ngôn (PTDN) là phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ trong sử dụng, tập trung vào mối quan hệ giữa ngôn ngữ và ngữ cảnh xã hội, nhằm làm rõ cách thức tổ chức và chức năng của ngôn ngữ trong giao tiếp. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng ngôn ngữ chính trị một cách linh hoạt, giản dị, gần gũi với quần chúng, tạo nên sức mạnh thuyết phục và ảnh hưởng sâu rộng. Nghiên cứu này dựa trên các lý thuyết PTDN chức năng, phân tích diễn ngôn phê phán và mô hình giao tiếp của Roman Jakobson để làm rõ các yếu tố cấu trúc, ngữ cảnh, hành động ngôn từ và quyền lực phát ngôn trong các lời kêu gọi của Người.

1.1. Tổng quan về phân tích diễn ngôn và diễn ngôn kêu gọi

Phân tích diễn ngôn là nghiên cứu ngôn ngữ trong sử dụng, tập trung vào các yếu tố ngôn ngữ và ngữ cảnh để giải thích ý nghĩa và chức năng giao tiếp. Diễn ngôn kêu gọi là loại hình diễn ngôn chính trị có chức năng vận động, thuyết phục hành động. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã để lại nhiều diễn ngôn kêu gọi có giá trị lịch sử và ngôn ngữ đặc sắc, thể hiện tư tưởng cách mạng và phong cách ngôn ngữ chuẩn mực, giản dị, dễ hiểu.

1.2. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu phân tích diễn ngôn kêu gọi

Luận án sử dụng phương pháp phân tích diễn ngôn chức năng, phân tích diễn ngôn phê phán và mô hình giao tiếp của Roman Jakobson. Phân tích diễn ngôn chức năng giúp làm rõ chức năng thông tin, liên nhân và tác động trong lời kêu gọi. Phân tích diễn ngôn phê phán tập trung vào quyền lực phát ngôn và chiến lược giao tiếp. Mô hình Jakobson giúp xác định các yếu tố giao tiếp và chức năng ngôn ngữ trong diễn ngôn kêu gọi.

II. Hướng dẫn nhận diện và phân tích cấu trúc diễn ngôn kêu gọi của Hồ Chí Minh

Cấu trúc diễn ngôn kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh có những đặc điểm riêng biệt, gồm các phần tiêu đề, mở đầu, khai triển và kết luận. Tiêu đề thường ngắn gọn, gây chú ý và nêu bật nội dung chính. Phần mở đầu định hướng chủ đề và tạo sự kết nối với người nghe. Phần khai triển trình bày lập luận, thông điệp chính và các dẫn chứng thuyết phục. Phần kết luận thường là lời kêu gọi hành động mạnh mẽ, thúc đẩy sự đồng thuận và hành động của quần chúng. Việc nhận diện cấu trúc này giúp phân tích hiệu quả các yếu tố ngôn ngữ và tác động của diễn ngôn kêu gọi.

2.1. Phân tích cấu trúc chung và các kiểu cấu trúc diễn ngôn kêu gọi

Diễn ngôn kêu gọi của Hồ Chí Minh thường có cấu trúc ba phần: mở đầu, khai triển và kết luận. Mở đầu giới thiệu chủ đề và tạo sự chú ý; khai triển trình bày các luận điểm, lập luận thuyết phục; kết luận là lời kêu gọi hành động. Ngoài ra, còn có các kiểu cấu trúc biến thể tùy theo mục đích và ngữ cảnh cụ thể.

2.2. Vai trò câu hô gọi và các từ dùng để hô gọi trong diễn ngôn

Câu hô gọi là phần mở đầu quan trọng trong diễn ngôn kêu gọi, dùng để thu hút sự chú ý và thiết lập quan hệ liên nhân với người nghe. Hồ Chí Minh sử dụng các từ ngữ hô gọi thân mật, gần gũi như “đồng bào”, “các chiến sĩ”, tạo sự gắn kết và tăng sức thuyết phục cho lời kêu gọi.

III. Phương pháp phân tích ngữ cảnh và liên nhân trong diễn ngôn kêu gọi Hồ Chí Minh

Phân tích diễn ngôn kêu gọi không thể tách rời ngữ cảnh tình huống và văn hóa, cũng như quan hệ liên nhân giữa người nói và người nghe. Ngữ cảnh bao gồm thời gian, địa điểm, hoàn cảnh lịch sử và văn hóa, ảnh hưởng đến cách thức tổ chức và nội dung thông điệp. Liên nhân thể hiện qua các hành động ngôn từ như kêu gọi, khuyên bảo, khuyến nghị, và qua các biểu hiện quyền lực phát ngôn, chiến lược giao tiếp, cách xưng hô. Phân tích kỹ lưỡng các yếu tố này giúp làm rõ sức mạnh tác động và hiệu quả truyền thông của diễn ngôn kêu gọi.

3.1. Phân tích ngữ cảnh tình huống và văn hóa trong diễn ngôn kêu gọi

Ngữ cảnh tình huống gồm thời gian, địa điểm, sự kiện lịch sử và đối tượng tiếp nhận, ảnh hưởng trực tiếp đến nội dung và hình thức diễn ngôn. Ngữ cảnh văn hóa bao gồm tập quán, giá trị, tri thức xã hội, giúp giải thích các biểu hiện ngôn ngữ và phong cách của Hồ Chí Minh trong lời kêu gọi.

3.2. Hành động ngôn từ và chức năng liên nhân trong diễn ngôn kêu gọi

Hành động ngôn từ trong diễn ngôn kêu gọi gồm kêu gọi, khuyên bảo, khuyến nghị, thể hiện mục đích tác động đến người nghe. Chức năng liên nhân giúp duy trì quan hệ xã hội, thể hiện quyền lực phát ngôn qua chiến lược giao tiếp và cách xưng hô, tạo sự tin tưởng và đồng thuận trong quần chúng.

IV. Bí quyết lập luận và nghệ thuật ngôn từ trong diễn ngôn kêu gọi của Hồ Chí Minh

Lập luận là phương thức quan trọng nhất trong diễn ngôn kêu gọi của Hồ Chí Minh, giúp thuyết phục và tạo sức mạnh tác động. Người sử dụng các kiểu lập luận chặt chẽ, logic, kết hợp với nghệ thuật ngôn từ giản dị, chuẩn mực, gần gũi với quần chúng. Các thủ pháp tu từ như thành ngữ, tục ngữ, châm biếm, hài hước được vận dụng linh hoạt để tăng tính thuyết phục và sức lan tỏa của thông điệp.

4.1. Các kiểu lập luận và hiệu quả trong diễn ngôn kêu gọi

Hồ Chí Minh sử dụng lập luận dựa trên lý trí và tình cảm, kết hợp dẫn chứng thực tiễn, so sánh, đối chiếu để làm rõ vấn đề và thuyết phục người nghe. Hiệu quả lập luận thể hiện qua sự đồng thuận và hành động của quần chúng theo lời kêu gọi.

4.2. Phong cách ngôn ngữ cá nhân và thủ pháp tu từ đặc sắc

Phong cách ngôn ngữ của Hồ Chí Minh mang tính chuẩn mực, giản dị, dễ hiểu, gần gũi với quần chúng. Người sử dụng thành ngữ, tục ngữ, châm biếm, hài hước để làm sinh động và tăng sức thuyết phục. Phong cách này phản ánh sự thấu hiểu sâu sắc tâm lý, văn hóa dân tộc và xu hướng thời đại.

V. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu diễn ngôn kêu gọi Hồ Chí Minh

Nghiên cứu diễn ngôn kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ góp phần làm sáng tỏ giá trị ngôn ngữ và phong cách cá nhân của Người mà còn cung cấp kinh nghiệm quý báu cho các lĩnh vực truyền thông, quan hệ công chúng và giáo dục. Kết quả phân tích giúp nâng cao hiệu quả sử dụng ngôn ngữ trong tuyên truyền, vận động và giao tiếp chính trị. Các bài học từ phong cách và chiến lược ngôn ngữ của Hồ Chí Minh có thể áp dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau để tạo sức thuyết phục và ảnh hưởng tích cực.

5.1. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào truyền thông và quan hệ công chúng

Kết quả phân tích diễn ngôn kêu gọi giúp xây dựng các chiến lược truyền thông hiệu quả, vận dụng ngôn ngữ phù hợp với ngữ cảnh và đối tượng, tăng cường sức thuyết phục và ảnh hưởng xã hội. Phong cách giản dị, gần gũi của Hồ Chí Minh là bài học quý giá cho các nhà truyền thông và quan hệ công chúng.

5.2. Kết quả nghiên cứu góp phần nâng cao chất lượng sử dụng ngôn ngữ chính trị

Phân tích các yếu tố ngôn ngữ, cấu trúc và phong cách trong diễn ngôn kêu gọi giúp nâng cao nhận thức về cách sử dụng ngôn ngữ chính trị hiệu quả, tránh khô khan, phức tạp, tạo sự đồng thuận và hành động tích cực trong xã hội.

VI. Kết luận và triển vọng nghiên cứu diễn ngôn kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Phân tích diễn ngôn kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh giai đoạn 1941-1969 đã làm rõ giá trị ngôn ngữ, phong cách cá nhân và sức mạnh tác động của các lời kêu gọi trong lịch sử cách mạng Việt Nam. Nghiên cứu góp phần bổ sung lý luận phân tích diễn ngôn, đặc biệt là phân tích diễn ngôn chính trị và phân tích diễn ngôn phê phán. Triển vọng nghiên cứu trong tương lai là mở rộng phân tích sang các loại hình diễn ngôn khác của Hồ Chí Minh, ứng dụng kết quả nghiên cứu vào các lĩnh vực truyền thông, giáo dục và quản trị ngôn ngữ, góp phần phát huy di sản ngôn ngữ của Người trong thời đại mới.

6.1. Tổng kết những đóng góp của nghiên cứu phân tích diễn ngôn kêu gọi

Nghiên cứu đã nhận diện và phân tích chi tiết các đặc điểm cấu trúc, ngữ cảnh, hành động ngôn từ và phong cách ngôn ngữ trong diễn ngôn kêu gọi của Hồ Chí Minh, làm rõ vai trò của ngôn ngữ trong tuyên truyền và vận động cách mạng, đồng thời góp phần phát triển lý luận phân tích diễn ngôn chức năng và phê phán.

6.2. Hướng nghiên cứu và ứng dụng trong tương lai về diễn ngôn chính trị

Triển vọng nghiên cứu là mở rộng phân tích các loại diễn ngôn chính trị khác của Hồ Chí Minh và các nhà lãnh đạo khác, ứng dụng kết quả vào truyền thông chính trị, giáo dục và quản trị ngôn ngữ, nhằm nâng cao hiệu quả giao tiếp chính trị và phát huy giá trị di sản ngôn ngữ cách mạng.

02/09/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận và các phụ lục đi kèm, nội dung chính đƣợc triển khai theo bốn chƣơng: Chƣơng 1. Tổng quan và cơ sở lý luận Chƣơng này, luận án trình bày hai nội dung lớn: Phần một trình bày tổng quan các vấn đề nghiên cứu về phân tích diễn ngôn và các nghiên cứu về ngôn ngữ, sản phẩm ngôn từ cụ thể của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phần hai trình bày các vấn đề lý thuyết làm tiền đề cho việc phân tích, nghiên cứu của đề tài luận án. Đó là các vấn đề sau: Lý luận về diễn ngôn, phân tích diễn ngôn, quan niệm giao tiếp của Roman Jakobson, một số vấn đề khái quát về hành động ngôn từ, diễn ngôn chính trị và các diễn ngôn có chức năng kêu gọi của Hồ Chủ tịch.

Phân tích diễn ngôn có nội dung kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ bình diện thông điệp Chƣơng này tiếp cận đối tƣợng nghiên cứu từ hai phƣơng diện: nội dung thông tin và cấu trúc thông điệp. Luận án phân tích nguyên tắc để có đƣợc thông điệp hiệu quả, chỉ ra các chủ đề chính của các diễn ngôn của Hồ chủ tịch. Từ phƣơng diện truyền thông, luận án đặt ra vấn đề về nội dung thông điệp, phân tích việc sử dụng ngôn ngữ trong thông điệp và tính minh bạch trong các thông điệp kêu gọi. Về cách tổ chức thông điệp, luận án mô tả và phân tích những nét đặc trƣng trong cấu trúc diễn ngôn có nội dung kêu gọi của Hồ chủ tịch, từ đó chỉ ra cấu trúc điển hình của diễn ngôn có nội dung kêu gọi của Hồ chủ tịch.

Về phƣơng thức tổ chức nội dung luận án coi lập luận là phƣơng thức quan trọng nhất. Do đó, chƣơng 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com này cũng dành để nghiên cứu và phân tích một số kiểu lập luận trong diễn ngôn kêu gọi nhằm làm rõ hiệu quả, hiệu lực của lập luận, và khả năng tác động mạnh mẽ của ngôn từ mà Ngƣời sử dụng, đồng thời, bổ sung thêm cách nhìn về phong cách ngôn ngữ và tƣ tƣởng của Hồ Chí Minh. Phân tích diễn ngôn có nội dung kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ bình diện liên nhân Chƣơng này, luận án thực hiện phân tích ngữ cảnh, chức năng tác động trong mối tƣơng quan với các tiểu chức năng ngôn ngữ khác của R. Jakobson, các hành động ngôn từ tiêu biểu, phƣơng tiện tình thái từ bình diện liên nhân.

Luận án phân tích một số vấn đề của phân tích diễn ngôn phê phán mà trong đó trọng tâm là quyền lực phát ngôn và các biểu hiện của quyền lực qua chiến lƣợc giao tiếp, cách thức xƣng hô. Nghiên cứu trƣờng hợp: Phân tích diễn ngôn có nội dung kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua ba sản phẩm cụ thể Từ những lý thuyết và phân tích ở các chƣơng trƣớc, chƣơng này dành để nghiên cứu các trƣờng hợp cụ thể nhằm làm rõ hơn các vấn đề ngữ cảnh tình huống, hành động ngôn từ và lập luận trong các diễn ngôn có nội dung kêu gọi của Hồ chủ tịch. Ba sản phẩm đƣợc chọn phân tích ra đời ở những giai đoạn lịch sử quan trọng của đất nƣớc, của cách mạng: Thƣ kêu gọi tổng khởi nghĩa (1945); Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (1946); Không có gì quý hơn độc lập tự do (1966). Luận án cũng dành một mục ở chƣơng này để đƣa ra một vài bàn luận về nét đặc sắc trong phong cách ngôn ngữ cá nhân của Chủ tịch Hồ Chí Minh qua diễn ngôn kêu gọi.

16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1. TỔNG QUAN VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan tình hình các nghiên cứu liên quan tới luận án 1.Tình hình nghiên cứu phân tích diễn ngôn ở ngoài nước Cuối những năm 50 thế kỉ XX, một số nhà ngôn ngữ học đã nghiên cứu những hiện tƣợng trên câu, ngoài câu và nêu ra những khái niệm về đơn vị ngôn ngữ trên câu này. Từ đây, một ngành nghiên cứu mới bắt đầu xuất hiện, đồng thời báo hiệu một hƣớng đi, hƣớng nghiên cứu mới đầy hấp dẫn, gắn chặt với hoạt động ngôn ngữ.

Thuật ngữ diễn ngôn (Discourse) đƣợc thừa nhận xuất hiện lần đầu tiên trong bài báo "Phân tích diễn ngôn" của Z. Harris (1952), sau đó đƣợc nhiều nhà ngôn ngữ học tiếp tục phát triển. Trong bài báo, ông đã phân tích một quảng cáo về dầu gội dƣỡng tóc, phân tích của ông bao gồm xem xét quy tắc có thể giải thích đƣợc của câu và mối quan hệ giữa câu. Thảo luận này còn liên quan đến các vấn đề nhƣ ngôn ngữ và văn hóa, diễn ngôn và ngữ cảnh xã hội.

Trong bài báo đó, Harris cho rằng có hai phƣơng pháp phân tích diễn ngôn, một là có thể thông qua giới hạn câu mô tả ngôn ngữ; hai là nghiên cứu quan hệ giữa văn hóa và ngôn ngữ. Do Harris là ngƣời theo chủ nghĩa cấu trúc nên ông ít quan tâm đối với các phƣơng diện ngôn ngữ và văn hóa, ngôn ngữ và ngữ cảnh xã hội. Dù là ngƣời sáng tạo ra thuật ngữ "Phân tích diễn ngôn" nhƣng bài báo của ông vẫn chƣa có ảnh hƣởng nhiều ở lĩnh vực phân tích diễn ngôn lúc đó. Song ông đã góp phần quan trọng trong việc chuyển đổi đối tƣợng nghiên cứu của ngôn ngữ học văn bản từ câu sang diễn ngôn, hƣớng nghiên cứu vào chức năng của ngôn ngữ.

Đánh giá về vấn đề này, Coulthard (1977/1985) cho rằng: tiêu đề bài báo của Harris rất có sức thu hút nhƣng trên thực tế lại làm cho ngƣời ta thất vọng, phƣơng pháp phân tích mà ông đề ra lúc đó cũng chƣa có ai quan tâm (dẫn theo Diệp Quang Ban) [8, 150]. Từ những năm 60 lại đây, rất nhiều nghiên cứu của các học giả đã thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng và mạnh mẽ của PTDN. Vào những năm 1970, những chuyên luận đầu tiên và những công trình tập thể dành hoàn toàn hoặc một phần cho diễn ngôn – phân tích nhƣ một lĩnh vực tri thức liên ngành lần lƣợt xuất hiện. Từ đây, nghiên cứu về diễn ngôn đạt tới vị thế của một khoa học độc lập.

Đƣợc coi là ngƣời có công truyền bá PTDN, Van Dijk đã có nhiều công hiến to lớn về phƣơng diện nghiên cứu PTDN. Nghiên cứu ban đầu của ông thƣờng đƣợc 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com gọi là "ngữ pháp văn bản" (Text grammar). Năm 1972, Van Dijk xuất bản cuốn "Some aspects of text grammar" (Một số phƣơng diện của ngữ pháp văn bản). De Beaugrande đã nhận định: năm 1979 đƣợc coi nhƣ cái mốc phân chia hai giai đoạn giữa nghiên cứu văn bản và diễn ngôn, là điểm kết thúc để tìm ra tên gọi cho giai đoạn tiếp theo.

Từ những năm 80 thế kỷ XX trở lại đây, tốc độ phát triển của phân ngành PTDN, cả về chiều sâu và chiều rộng đã làm cho nhiều ngƣời phải nhìn nhận và quan tâm. Halliday và Hassan (1976) chỉ ra: mục đích của tiến hành phân tích diễn ngôn không phải là "chứng minh" mà là "giải thích". Có thể thấy, tiến hành chứng minh với một diễn ngôn, mục đích là làm rõ nội dung của nó, xem nó biểu thị ý nghĩa gì, còn với một diễn ngôn khi tiến hành giải thích, chính là phải làm rõ diễn ngôn biểu đạt ý nghĩa nhƣ thế nào chứ không phải ý nghĩa nào khác. Từ năm 1994, Halliday đã cho rằng, phân tích diễn ngôn có hai mục tiêu không cùng cấp độ.

Cấp độ thấp là làm rõ ý nghĩa của diễn ngôn mà chính bản thân nó biểu đạt; thông qua phân tích ngôn ngữ để chứng minh diễn ngôn biểu đạt ý nghĩa nhƣ thế nào và tại sao lại biểu đạt ý nghĩa nhƣ vậy. Cách phân tích này có thể cho thấy tính đa nghĩa, tính khác nghĩa và tính ẩn dụ của diễn ngôn. Phân tích ở cấp độ này nếu dựa vào hệ thống ngữ pháp nhất định, nên không khó đạt đƣợc mục tiêu. Cấp độ cao hơn so với mục tiêu này là tiến hành đánh giá với diễn ngôn: thông qua phân tích ngôn ngữ, diễn ngôn có thể chỉ ra vì sao một diễn ngôn nào đó đạt đƣợc (hoặc không đạt đƣợc) mục đích của nó; cũng có thể chỉ ra diễn ngôn này thành công ở phƣơng diện nào, thất bại hay không thành công ở phƣơng diện nào.

Mục tiêu này không dễ đạt đƣợc, nó không những cần phải phân tích đối với bản thân diễn ngôn mà cón phải xem xét đến ngữ cảnh văn hóa và ngữ cảnh tình huống của diễn ngôn, đồng thời còn phải nghiên cứu thảo luận các mối quan hệ giữa diễn ngôn và ngữ cảnh. Công trình "Dẫn nhập phân tích diễn ngôn" của David Nunan nhằm vào ngôn ngữ trong sử dụng thực tế. Nunan giới thiệu những khái niệm cơ bản trong lĩnh vực phân tích diễn ngôn: diễn ngôn, văn bản, phân tích diễn ngôn, liên kết, mạch lạc. Yule đƣợc cho là những ngƣời có đặc quyền trong lĩnh vực PTDN.

Cuốn "Phân tích diễn ngôn" (1983) là công trình bao quát về phạm vi, phƣơng pháp nghiên cứu đề tài cụ thể. Các tác giả đã đƣa ra các vấn đề về cơ sở lý thuyết, phƣơng pháp, đối tƣợng, công cụ, thuật ngữ của nghiên cứu PTDN. Đó là 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com việc chuyển từ việc nghiên cứu ở bậc câu sang nghiên cứu mặt nghĩa của diễn ngôn, đƣa ra việc khai thác diễn ngôn từ những phƣơng diện khác nhau. Phƣơng pháp dựa hẳn vào ngữ cảnh tình huống.

Đối tƣợng và các vấn đề giúp lý giải đƣợc diễn ngôn đều đƣợc xuất phát từ thực tế. Vì lẽ đó, công trình này đã đƣợc nhiều ngƣời dẫn nguồn trong các nghiên cứu liên quan tới phân tích diễn ngôn của họ. Đồng thời, từ đây, PTDN đã thực sự đƣợc thừa nhận rộng rãi cho giai đoạn tiếp theo của ngữ pháp văn bản. Deborah Schiffin (1994) đã giới thiệu sáu cách có thể tiếp cận PTDN trong cuốn "Approaches to Discuorse" (Các phƣơng pháp tiếp cận diễn ngôn): lý thuyết hành vi ngôn ngữ, ngôn ngữ học xã hội tƣơng tác, văn hóa học giao tiếp, ngữ dụng học, phân tích hội thoại, phân tích biến đổi, và dùng chúng vào thực tiễn PTDN.

Sara Mills trong cuốn Discourse (The New Critical Idiom) (2004) đã phân tích một cách sâu rộng về diễn ngôn và những giả thuyết xung quanh nó. Mills xem xét và nghiên cứu về diễn ngôn và quá trình phát triển của diễn ngôn, phân tích diễn ngôn. Mills cho rằng thuật ngữ diễn ngôn có phạm vi nghĩa rộng nhất so với các thuật ngữ khác thuộc lí luận văn học và văn hóa. Nó là đối tƣợng nghiên cứu của rất nhiều lĩnh vực: ngôn ngữ học, tâm lý học, xã hội học, văn học.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ