CHƯƠNG 1. Đặt vẫn đề Trong vài thập ki qua, ngành chăn nuôi gia cầm trên thé giới phát triển mạnh về cả số lượng và chất lượng. Theo Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc (FAO), tổng số sản lượng thịt thế giới đạt 355,5 triệu tan vào năm 2021. Trong đó, sản lượng thịt gia cầm đạt 137,8 triệu tan.
Sản lượng thịt gia cầm của Việt Nam đạt 1,92 triệu tấn (Tổng cục thống kê, 2021). Việt Nam là đất nước giàu đa dạng sinh học và có một nền chăn nuôi gia SÚC, gia cầm da dang và phong phú (Lê Viết Ly, 2015). Gia cam là một phan không thiếu đối với người dân Việt Nam trong hàng ngàn năm qua (Burgos và ctv, 2007). Đặc biệt, các giống gia cầm bản địa có khả năng thích nghi tốt với điều kiện thời tiết khí hậu và có nhu cầu dinh dưỡng thấp nhưng có sức đề kháng cao với dịch bệnh (Nguyễn Bá Tiếp, 2011).
Bên cạnh đó, thịt của gà bản địa có hàm lượng chất béo và cholesterol thấp (Jaturasitha và ctv, 2008). Ngoài ra, một số loài gà còn là vị thuốc dé chữa trị một số bệnh trong y học và giúp bôi bổ sức khỏe (Trần Thị Mai Phương và Lê Thị Biên, 2007). Trong đó, giống gà Hắc Phong là giống gà có da đen, xương đen, thịt đen và phủ tạng đen. Ga Hắc Phong được phát hiện và thu thập từ Quang Ninh (Phạm Công Thiếu và ctv, 2018).
Bên cạnh những ưu điểm trên thì cũng có điểm hạn chế là khả năng sinh trưởng kém. Một trong những yếu tố quan trọng để giúp tăng khả năng sinh trưởng 1a chọn lọc giống. Trong thời gian qua, việc chọn lọc giống vật nuôi chủ yếu dựa vào kiểu hình, nhưng cũng đã đóng góp không nhỏ đề nâng cao năng suất vật nuôi. Những phương pháp chọn lọc truyền thống chỉ cải thiện được một phần sinh trưởng ở gà do chưa có sự hiểu biết sâu về các gen liên kết với các tính trạng đã làm hạn chế trong việc nhận diện các gen liên quan đến đa hình ở gà.
Điều này có thể được khắc phục bởi di truyền phân tử vì nó có thé phát hiện những biến đổi ở mức độ DNA cũng như nhận diện được những gen ảnh hưởng đến các tính trạng khác (Jiang và ctv, 2004). Ngày nay với sự phát triển của công nghệ kỹ thuật hiện đại đã nghiên cứu chọn lọc giéng vật nuôi kết hợp với sự hỗ trợ của các chỉ thị phân tử (chỉ thị DNA). Hiện nay, có nhiều chi thị phân tử được áp dụng trong việc chọn giống như: RFLP (đa hình độ dai các đoạn cắt giới hạn) hay SNP (đa hình nucleotide đơn). Một trong những thuận lợi của việc chọn giống nay là có thé thực hiện khi cá thé còn nhỏ, từ đó sẽ rút ngắn được thời gian và hiệu quả trong chọn lọc.
Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, một trong những gen quan trọng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của gà là gen Growth Hormon (GH). Đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chứng minh được mối tương quan giữa đa hình gen GH với các tính trạng sinh trưởng của gà (Nguyen Thị Lan Anh và ctv, 2015; Bassam và ctv, 2016). Đây chính là những tiền đề quan trọng để có thể tìm ra sự ảnh hưởng gen G77 đến khả năng sinh trưởng ở gà Hắc Phong, từ đó có những biện pháp giúp cải thiện năng suất trong chăn nuôi. Mục tiêu đề tài Đánh giá đa hình gen GH trên vùng intron 3 va phân tích ảnh hưởng của đa hình gen G77 đến tính trạng sinh trưởng trên gà Hắc Phong.
Nội dung thực hiện Nội dung 1: Khuếch đại đoạn gen mục tiêu bằng phản ứng PCR Nội dung 2: Nhận diện và phân tích đa hình gen G77 bằng enzyme phân cắt Nội dung 3: Phân tích ảnh hưởng của đa hình gen đến tính trạng sinh trưởng. TONG QUAN TÀI LIEU 2. Một số đặc điểm của gà Hắc Phong Theo Al-Nasser và cộng sự (2007) đã phân loại gà trong hệ thống giới động vật như sau: Giới Animal Ngành Chordata Lớp Aves Bộ Galliformes Họ phasianidea Chi Gallus Loai Gallus gallus 2. Đặc điểm ngoại hình Các đặc điểm về ngoại hình của gia cầm là những đặc trưng về giống, thé hiện khuynh hướng sản xuất và giá trị kinh tế của chúng.
Gà Hắc Phong là giống gà có thân hình nhỏ. Ngoại hình cân đối, nhanh nhẹn, đầu nhỏ, tròn, cổ cao, mắt linh hoạt, lông dày, đa sé ga có mao nụ màu đen tim. Đặc điểm đặc trưng của gà Hắc Phong là có bộ lông màu đen tuyên, chân 6 ngón và có một hàng lông ở ngón ngoài cùng, da, thịt và xương đen, phủ tạng đen. Gà mái Hắc Phong có chỏm lông trên đỉnh đầu màu đen (Phạm Công Thiếu và ctv, 2018; Nguyễn Thị Phương Giang và ctv, 2022).
Khả năng sinh trưởng Sinh trưởng giữ vai trò rất quan trọng, là một trong những chỉ tiêu đánh giá hiệu quả chăn nuôi. Sinh trưởng là sự tích luỹ của các chất hữu cơ (chủ yếu là protein), sự gia tăng về chiều dài, chiều cao và chiều rộng, khối lượng các bộ phận và toàn bộ cơ thé. Thực chat của sinh trưởng chính là sự tăng trưởng và phân chia của các tế bào trong cơ thé vật nuôi (Chu Thị Thơm va ctv, 2006). Về mặt sinh học, sinh trưởng được xem như là quá trình tổng hợp protein, nên người ta thường lay việc tăng khối lượng cơ thé làm chỉ tiêu đánh giá quá trình sinh trưởng.
Theo Phạm Công Thiếu và cộng sự (2018), đã nghiên cứu về khả năng sản xuất của gà Hắc Phong cho thấy khối lượng gà 1 ngày tuổi đạt 27,53 g/con; khối lượng gà lúc 8 tuần đạt trung bình 666,47 g/con, giai đoạn ] - 8 tuần tuổi có tốc độ sinh trưởng chậm. Giai đoạn đầu gà được ăn tự do nhưng tốc độ sinh trưởng chậm, đây cũng là nhược điểm của giống gà bản địa. Ở tuần thứ 9, khối lượng ở gà trống trung bình là 768,87 g/con và 670,5 g/con ở gà mái. Khối lượng co thé lúc 19 tuần tuổi ở gà trống đạt 1.468,9 g/con; ga mái đạt 1.
Kết quả này cũng tương tự như kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Phương Giang và cộng sự (2022), cho rằng gà Hắc Phong ở 1 ngày tuổi có khối lượng trung bình 29,14 g/con và tăng dần đến tuần thứ 9, 19 lần lượt trung bình đạt 573,58; 1. Ở tuần thứ 9, khối lượng ở gà trống trung bình là 569,09 g/con và 578,08 g/con ở gà mái. Trong khi đó, khối lượng gà trống ở tuần 19 là 1.332,67 g/con và ga mái là 1. Một số yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gà 2.
Ảnh hưởng của giống Giống đóng vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng của gia cầm. Đã có nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự sinh trưởng của mỗi giống có sự khác nhau như ở gà hướng thịt có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn gà hướng trứng và cả những cá thể của mỗi giống cũng có sự khác nhau. Theo Nguyễn Duy Hoan và ctv (1999), cho rằng sự khác nhau về khối lượng giữa các giống gia cầm rất lớn, giống gà hướng thịt có khối lượng cơ thê lớn hơn giống gà kiêm dụng (đây là những giống gà có năng suất trung bình, vừa có thé nuôi lấy trứng vừa có thể nuôi lấy thịt, thích nghi tốt với lối nuôi thả vườn) và nặng hơn gà hướng trứng. Ảnh hưởng của giới tính Đối với ga, sự sinh trưởng của mỗi giới là khác nhau, con trồng lớn nhanh hơn con mái.
Theo Salim và ctv (2011), ở gà trống sẽ có hiệu suất sinh trưởng lớn hơn gà mái. Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng Chế độ dinh dưỡng có quan hệ mật thiết với khả năng sinh trưởng của gia cầm. Dinh dưỡng là một quá trình sinh học bằng việc cung cấp các dưỡng chất cần thiết nhằm duy trì sự sống cơ thê và phát triển. Do đó, nhu cầu về chất dinh dưỡng hay chế độ dinh dưỡng hợp lý là sẽ rất cần thiết đến tốc độ sinh trưởng.
Theo Fontana và ctv (1992), bố trí thí nghiệm theo đối 2 nhóm ga, cho thấy nhóm gà cho ăn tự do có khối lượng cơ thé và tỷ lệ chuyền đôi thức ăn lớn hơn nhóm gà bị hạn chế thức ăn. Theo Sandilands và ctv (2005), cho thấy những con gà năng động phát triển nhanh hơn trong khi ga thụ động, điều nay cho thấy hành vi ăn uống cũng có thé góp phan ảnh hưởng đến khối lượng của cơ thê và đó cũng chính là đặc tính về sinh lý tập tính của vật nuôi. Ảnh hưởng của mùa Điều kiện thời tiết khí hậu giữa các mùa cũng ảnh hưởng tới tốc độ sinh trưởng của gia cầm. Đặc biệt khí hậu nóng ẩm nhiệt đới gió mùa ở nước ta có tác động lớn tới gia cầm.
Vào mùa mưa, độ ẩm cao sẽ điều kiện thuận lợi cho các vi sinh vật gây hại làm ga dé mắc bệnh đường tiêu hoá, miễn dịch,. làm giảm kha năng sinh trưởng. Vào mùa khô, độ 4m thấp sẽ gây bụi làm gia cầm dé mắc một số bệnh về hô hap, mắt,. Ngoài ra, nó còn làm da khô, gầy yếu, gây khó chịu cho gà từ đó ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của chúng.
Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường Các yếu tố môi trường như nhiệt độ. am độ, ánh sáng, độ thông thoáng và mật độ nuôi có ảnh hưởng không nhỏ tới sự sinh trưởng của gà. Chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh trưởng của gà Dé đánh giá khả năng sinh trưởng thường sẽ dựa vào chỉ tiêu sinh trưởng tích luỹ, sinh trưởng tương đối và sinh trưởng tuyệt đối. Sinh trưởng tích luỹ: Khối lượng của toàn cơ thể tại các thời điểm sinh trưởng.
Sinh trưởng tuyệt đối: Khối lượng của cơ thê tăng lên trong một đơn vị thời gian. Sinh trưởng tương đối: Tỷ lệ phần trăm khối lượng của cơ thê tăng thêm so với trung bình của hai thời điểm sinh trưởng sau và trước. Ứng dụng di truyền phân tử trong chọn giống Trước đây người ta thường dựa vào đặc điểm hình thái bên ngoài để chọn ra những con giống có những đặc điểm mà mình mong muốn và cho chúng giao phối với nhau đề giữ những đặc điểm mong muốn đó. Phương pháp này tương đối đơn giản, dễ thực hiện, không tốn kém nhưng nó vẫn có nhược điểm về thời gian và độ chính xác.
Hiện nay, với sự phát triển vượt bật của khoa học — kĩ thuật hiện đại thì chỉ thị phân tử (DNA) đã được áp dụng nhiều trong thực tiễn bởi vì chúng giúp tiết kiệm được thời gian và nguồn lực, có thé chọn lọc sớm, không bị ảnh hưởng bởi môi trường, có thể phân biệt giữa đồng hợp, di hợp và chọn lọc được từng cá thé.