MỞ ĐẦU 1 11 1 ig 2x 13 2 CHUONG 2. TONG QUAN TAI LIEU 3 2. VAT LIEU VÀ PHƯƠNG PHAP 14 5 3. KET QUA VÀ THẢO LUẬN 20 4.
20 442, 21 42 22 43 25 CHUONG 5: KET LUAN VA DE NGHI 26 5.2 26 TAI LIEU THAM KHAO 27 PHU LUC 31 5. DANH SACH CAC CHU VIET TAT ANOVA: Analysis of variance Base Pair DNA: Axit Deoxyribonucleic dNTP: Deoxyribonucleotide Triphosphate EDTA: Ethylenediaminetetraacetic Acid He: Expected Heterozygotes IGF: Insulin-like Growth Factor OD: Optical Density PCR: Polymerase Chain Reaction PIC: Polymorphic Information Content RFLP: Restriction Fragement Length Polymophism SEM: Standard error of the mean UTR: Untranslated Region UV: Ultravolet SNP: Single nucleotide polymorphism 6. DANH SÁCH CAC BANG Bảng 2. Phân tích đa hình gen 7GƑ-/ tại locus JGF-1/Psfl của một số nghiên cứu trên thé giới 9 Bảng 3.
Kích thước sản phẩm cắt dự kiến của enzyme cắt giới hạn (Ps/I) trên kiểu gen IGF-1 17 Bang 4. Phân tích đa hình kiểu gen JGF-/ tai locus JGF-1/Psfl 23 Bảng 4. Anh hưởng đa hình gen JGF-1/Ps?I đến một số tinh trạng sản xuất trứng 25 7. DANH SÁCH CÁC HÌNH Hình 2.
Gà Hắc Phong. VỊ trí đa hình gen /GE-7. Cấu trúc gen /GƑ-. Các giai đoạn của phản ứng PCR.
Các bước tiễn hành kỹ thuật RFLP. Kết quả điện di DNA tổng số một số mẫu đại diện trên gel agarose 1,5%. Kết quả điện di sản pham phản ứng PCR của một số mẫu đại diện trên gel agarose 1. Kết qua điện di sản pham phan ứng enzyme phân cat Ps/I của một số mẫu dai diện trên gel agarose 2,5%.1 Dat van dé Việt Nam là một trong những nước có nền chăn nuôi gia cầm phát triển trên thế giới, với tong đàn khoảng 531,66 triệu con (tháng 9 - 2022, theo ước tính của Tổng cục Thống kê).
Hiện nay, gia tăng dân số đang là vấn đề hết sức cấp thiết cho sự phát triển và sự tồn tại của nhân loại. Vì vậy, để đảm bảo vấn đề gia tăng dân số bên cạnh việc phát triển số lượng đàn gia cầm lớn thì chúng ta cần chú trọng hơn và vấn đề chất lượng thịt và trứng của gia cầm cũng đang được quan tâm đề đáp ứng được nhu cầu của thị trường hiện nay. Việc tạo chọn giống gà trong thời gian qua cũng đã góp phần vào đa dạng hóa giống gà hiện nay trên nước ta. Dé giải quyết van đề này, một ứng viên đó là giống gà Hắc Phong được cho là có nhiều đặc tính ưu việt hơn so với các giống gà khác như khối lượng trứng, năng suất trứng,.
được mong đợi là sẽ đáp ứng được nhu cau của thị trường. Việc áp dụng tích cực các phương pháp chọn lọc trong chăn nuôi gia cầm đã làm tăng tốc độ tăng trưởng và năng suất thân thịt (Nicholson, 1998), nhưng có những hậu quả tiêu cực đối với quá trình này, bao gồm các vấn đề về sức khỏe, đặc biệt là béo phì và tăng tỷ lệ mắc hội chứng đột tử, suy giảm miễn dịch và các bệnh ở chân (Deeb và ctv, 2002). Do đó, việc cải thiện khả năng sinh trưởng, chất lương trứng đồng thời bảo tồn các đặc điểm tốt của gà là rất cần thiết. Ngày nay, ứng dụng kỹ thuật di truyền phân tử trong chọn giống vật nuôi giúp các nhà chọn giống cải thiện một số đặc điểm kinh tế quan trọng như khả năng sinh sản, sinh trưởng mà vẫn bảo tồn được nguồn gen của giống.
Việc lựa chọn các gen ứng viên đã được chứng minh có thé cải thiện các đặc điểm sinh trưởng, chất lượng trứng ở gà bản địa đồng thời rút ngắn thời gian chọn lọc (Dekkers, 2004; Qiu và ctv, 2006; Nadaf và ctv, 2007). Insulin là hormone có bản chất peptide được tiết ra bởi tế bào beta của tụy, hormone này tương tác với thụ thé của một số loại tế bào khác nhau đóng vai trò quan trong trong các tế bao gan, cơ bắp và tế bào mô mỡ. Tác dụng chính cua insulin là làm tăng cường sự hấp thu glucose vào các tế bào, nơi nó được chuyển hóa và lưu trữ dưới dạng glycogen hoặc được sử dụng làm chất nền trong quá trình tổng hợp protein hoặc chất béo, cũng như đóng vai trò quan trọng trong cân bằng kali nội môi (Wilcox, 2005). Hầu hết các chức năng của hormone tăng trưởng ở gà được điều hòa bởi các yếu tố tăng trưởng giống insulin (IGF) (Lei và ctv, 2005).
Mặc dù, trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về gen JGF-/ nhưng Việt Nam vẫn còn khá ít nghiên cứu về gen này dé nhằm hỗ trợ chọn lọc sớm các tính trạng về năng suất trứng. Đây là nghiên cứu nhằm đánh ảnh hưởng đa hình gen Insulin-like Growth Factor-1 (IGF-1) đến một số tinh trang sinh sản trên gà Hắc Phong bang kỹ thuật PCR-RFLP trên vùng 5’ UTR của gen JGF-/ tạo cơ sở dữ liệu di ở mức phân tử cho hỗ trợ chọn lọc giống kết hợp kiểu hình.2 Mục tiêu của đề tài Đánh giá đa hình trên vùng 5’ UTR của gen Insulin-like Growth Factor-1 bằng kĩ thuật PCR-RFLP và ảnh hưởng đa hình gen đến một số tính trạng sinh sản của gà Hắc Phong nhằm góp phần ứng dụng chỉ thị phân tử vào hỗ trợ chọn lọc giống ở giai đoạn sớm theo định hướng sản xuất.3 Nội dung thực hiện Nội dung 1: Khuéch đại đoạn gen /GƑ-7 trên vùng 5’ UTR bằng kỹ thuật PCR. Nội dung 2: Nhận diện va phân tích đa hình gen JGF-1 bằng enzyme phân cắt. Nội dung 3: Phân tích anh hưởng đa hình gen /JGF-/ trên vùng 5’ UTR đến một số tính trạng sinh sản.
TONG QUAN TÀI LIEU 2.1 Giới thiệu sơ nét về giống gà Hắc Phong Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa có các điều kiện tự nhiên thuận lợi dé phát triển ngành chăn nuôi gia cầm đặc biệt là ngành chăn nuôi gà. Bên cạnh đó, Việt Nam được đánh giá là một trong những nước có tiềm năng đa dạng sinh học. Theo thống kê, tổng số gia cầm của cả nước tính đến thời điểm cuối tháng 9 năm 2022 là 531,66 triệu con tăng 3,8% so với cùng thời điểm năm 2021, sản lượng thịt gia cầm 9 tháng ước đạt 1467,1 nghìn tân, tăng 4,8%, sản lượng trứng gia cầm 9 tháng ước đạt 13,4 tỷ quả, tăng 4,7% so với cùng kỳ năm 2021 (tháng 9 - 2022, theo ước tính của Tổng Cục Tống Kê, 2022). Trong nhiều năm gần đây, ngành chăn nuôi gà ở Việt Nam phát triển mạnh trong những năm qua.
Với xu hướng chăn nuôi quy mô lớn, đảm bảo an toàn dịch bệnh được quan tâm và đầu tư khá đồng bộ cả về giống, kỹ thuật và chuyên đổi phương thức chăn nuôi nên san lượng thịt và trứng tăng trong các năm tiếp theo. Gần đây, bên các giống gà truyền thống như : gà Ri, gà Đông Tảo, gà Tre, gà Ac, Gà H'Mông. thì có thêm giống gà Hắc Phong. Gà Hắc Phong được nuôi nhiều ở tỉnh Quảng Ninh, được cho là giống gà có xuất xứ từ Trung Quốc và năm 2006 được các nhà khoa học thuộc Viện Chăn nuôi đưa về Trung tâm nghiên cứu Vịt Đại Xuyên đề bảo tồn nguồn gen.
Gà Hắc Phong có thân hình nhỏ, ở 20 tuần tuổi có bộ lông toàn thân là màu đen xước, da, thịt, xương đều có màu đen và đa số gà có màu nụ màu đen tím, chân 5 ngón, 100% gà mái có chỏm lông xù (Nguyễn Thị Phương Giang va ctv, 2022). Gà Hắc Phong có kha năng chống chịu bệnh tốt, dé thích nghi nên phù hợp với nhiêu mô hình chăn nuôi, vi trí dia lý và các vùng khí hậu khác nhau. Một số kết quả nghiên cứu trước cho thấy gà Hắc Phong: tỷ lệ nuôi sống cao (94,00%), tiêu tốn thức ăn/con/giai đoạn 9 - 19 tuần tuổi (4940,75g), ở 19 tuần tuổi gà mái đạt 1217,83 g/con và có ảnh hưởng tốt đến giai đoạn đẻ trứng với tỷ lệ đẻ trung binh/68 tuần tuôi đạt 43,34%, năng suất trứng đạt 145,74 quả, tiêu tốn thức ăn/10 trứng 2,45 kg, tỷ lệ phôi 90,78%, tỷ lệ gà con nở ra/tong trứng có phôi đạt 88,55%. Quy trình chăm sóc nuôi dưỡng và phòng bệnh thực hiện theo khuyến cáo của Trung tâm Nghiên cứu Gia cầm Thụy Phương, Viện Chăn nuôi (2004).
Kết quả cho thấy, trong điều kiện công nghiệp gà Hắc Phong tỷ lệ nuôi sống từ 1 đến 20 tuần tuổi cao đạt 96%. Lúc 20 tuần tuổi, gà trống và gà mái có khối lượng cơ thé lần lượt đạt 1. Hệ số chuyên hoá thức ăn tính trung bình cho cả giai doan từ 1 đến 20 tuần tuổi là 4,58kg thức ăn/kg tăng khối lượng ( Nguyễn Thị Phương Giang và ctv, 2022). Như vậy, với các đặc điểm ở gà Hắc Phong như là phát triển tốt, khả năng thích nghi tốt với nhiều điều kiện khác nhau nên tiến hành nghiên cứu các đặc điểm khác nhau để có thể nhân rộng giống gà Hắc Phong.
Trong đó, Trung tâm Nghiên cứu và Phát Triển Chăn nuôi Gia Cam VIGOVA đã tiến hành nghiên cứu và lai tạo giống gà Hắc Phong dé phục vụ cho nhu cầu thị trường hiện nay. Cấu trúc gen IGF-I Gen IGF-I ở gà có cấu trúc tương tự như cấu trúc gen JGF-1 của động vật có vú nhưng có một số đặc điểm khác biệt cơ bản về mặt sinh lý giữa động vật có vú và gia cầm (Soe và ctv, 2001). /GF-7 được sản xuất trong gan dé phản ứng với hormone tăng trưởng trong tuyến yên (Zhou và ctv, 2007). JGF-1 được phát hiện lần đầu tiên bởi Salmon và Daughaday vào năm 1957 (Salmon va ctv, 1957).
Việc giải trình tự và xác định trình tự axit amin của somatomedin C (Klapper va ctv, 1983) và A (Enberg và ctv, 1984) đã được tim thay trên JGF-J. Insulin-like growth factors (IGF) là một trong những yếu tố điều hòa cho sự phát triển, tổng hợp protein, sự tăng sinh và biệt hóa ở tế bảo (King va ctv, 1986; Scanes va ctv, 1999). Ở những loài vật khác nhau, có trên 99% phân tử IGF và ít nhất 7 loại protein đặc hiệu affinity-binding proteins có chức năng điều hòa hoạt động sinh học của IGF-1. Gen JGF-/ liên quan đến sự phát triển của các mô khác nhau như cơ, sụn, xương (Tirapegui, 1999).
Sự đa hình trong promoter của gen JGF-/ ở dòng gà Black Penedesenca có liên quan đến tăng trưởng trung bình hàng ngày và hiệu quả sử dụng thức ăn (Amills và ctv, 2003). Một báo cáo khác cho thấy tại locus /GŒƑ-7⁄Ps/I ở vùng 5 ' UTR của gen JGF-/ có liên quan đến trọng lượng trứng và vỏ trứng trong quan thé gà Chân Trắng (Nagaraja và ctv, 2000). Sự đa hình trong trình tự khởi động có kích thước 621 bp và vùng 5' UTR trong gen JGF-/ của ga và hai alen đã được xác định (Abbasi và ctv, 2011).