CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN DOANH THU VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP 1. Đặc điểm hoạt động kinh doanh thương mại 1. Khái niệm Hoạt động kinh doanh thương mại là hoạt động lưu thông phân phối hàng hóa trên thị trường buôn bán của từng quốc gia riêng biệt hoặc giữa các quốc gia với nhau, thuwch hiện quá trình lưu thông chuyển hàng hóa từ nơi sản xuất, nhập khẩu đến nơi tiêu dùng.TS Nghiêm Văn Lợi, GT Kế toán tài chính, NXB Tài chính 2007, trang 427) 1. Đặc điểm Kinh doanh hàng hóa trong doanh nghiệp thương mại là sự tổng hợp các hoạt động thuộc quá trình mua bán, trao đổi và dự trữ hàng hóa.
Đối tượng kinh doanh thương mại là các loại hàng hóa phân theo từng nghành hàng như: vật tư thiết bị, hàng tiêu dùng, lương thực thực phẩm, hàng chế biến, hàng công nghệ. Đặc điểm hoạt động mua hàng và bán hàng 1. Hoạt động mua hàng Mua hàng là giai đoạn đầu tiên của quá trình lưu chuyển hàng hóa, là quan hệ trao đổ giữa người mua và người bán về giá trị hàng hóa thông qua quan hệ thanh toán tiền hàng, là quá trình vốn doanh nghiệp chuyển hóa từ hình thái tiền tệ sang hình thái hàng hóa. Các phương thức mua hàng Bao gồm mua hàng nội địa (trong nước) và mua hàng nhập khẩu (mua từ các quốc gia khác).
Mua hàng nội địa: Mua hàng theo phương thức trực tiếp và mua hàng theo phương thức chuyển hàng. Đối với phương thức trực tiếp: Căn cứ vào hợp đồng kinh tế đã ký kết, doanh SVTH: Nguyễn Thị Hương 4 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS: Trịnh Văn Sơn nghiệp cử cán bộ nghiệp vụ mang giấy ủy nhiệm nhận hàng đến cơ sở bán hàng để nhận hàng theo hợp đồng, hoặc để mua hàng trực tiếp tại cơ sở sản xuất, nơi bán hàng và chịu trách nhiệm vận chuyển hàng hóa về kho của doanh nghiệp. Đối với phương thức chuyển hàng: bên bán căn cứ vào hợp đồng kinh tế đã ký kết hoặc đơn đặt hàng, sau đó tiến hành gửi hàng hóa đến địa chị mà bên mua yêu cầu. Mua hàng nhập khẩu: Gồm nhập khẩu trực tiếp và nhập khẩu ủy thác.
Đối với nhập khẩu trực tiếp: là hoạt động mà đơn vị tham gia hoạt động nhập khẩu trực tiếp đàm phán, lý kết hợp đồng với công ty nước ngoài, trực tiếp nhận hàng và thanh toán tiền hàng cho bên bán. Đối với nhập khẩu ủy thác là hoạt động mà đơn vị tham gia hoạt động nhạp khẩu (có đăng ký kinh doanh xuất nhập khẩu, có giấy phép xuất nhập khẩu) không đứng ra trực tiếp đàm phán với nước ngoài mà nhờ qua một bên thứ ba, tức đơn vị xuất nhập khẩu có uy tín để tiến hành thực hiện hoạt động nhập khẩu cho mình. Phương thức xác định giá trị hàng nhập kho Giá thực tế của hàng nhập kho được xác định theo từng hàng nhập: Đối với hàng hóa mua ngoài nhập kho thì giá thực tế của hàng nhập kho bao gồm: - Giá hóa đơn: giá ghi trên hóa đơn (chưa có thuế GTGT). - Thuế GTGT đối với các DN tính thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp.
- Các khoản thuế không hoàn lại (thuế nhập khẩu, thuế TTĐB…). - Các khoản giảm giá được người bán hàng chấp nhận, ghi giảm giá thực tế của hàng nhập kho. Trong trường hợp nếu là doanh nghiệp thương mại, các khoản chi phí phát sinh trong quá trình mua hàng như chi phí vận chuyển, bốc dở… thì không tính vào giá thực tế của hàng nhập kho mà được tập hợp riêng và phân bổ trực tiếp vào giá vốn hàng bán. Đối với hàng gia công xong nhập kho thì giá thực tế hàng nhập kho là giá thực tế của hàng xuất kho và chi phí phát sinh trong quá trình gia công như: chi phí vạn SVTH: Nguyễn Thị Hương 5 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS: Trịnh Văn Sơn chuyển bốc dở, tiền thuê gia công, lương nhân viên.
Đối với hàng hóa đã bán, gửi bán mà bị khách hàng trả lại nhập kho thì giá trị thực tế nhập kho là giá trị thực tế đã xác định tại thời diểm bán hoặc gửi bán. Hoạt động bán hàng. Khái niệm Bán hàng là khâu cuối cùng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thương mại, là quá trình người bán chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa cho người mua để nhận quyền sở hữu về tiền tệ, hoặc quyền đòi tiền từ người mua. Các cách thức bán hàng Phương pháp bán hàng trực tiếp cho khách hàng: - Trường hợp giao hàng trực tiếp cho khách hàng tại kho của doanh nghiệp hoặc tại các phân xưởng sản xuất không qua kho thì số sản phẩm này khi đã giao cho khách hàng được chính thức coi là tiêu thụ.
- Trường hợp giao hàng tại kho của bên mua hoặc tại một địa điểm nào đó được quy định trong hợp đồng: sản phẩm khi xuất kho chuyển đi vẫn còn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp. Khi được bên mua thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán về số hàng đã chuyển giao thì số hàng đó được được xác định là tiêu thụ. Phương pháp bán hàng qua tiêu thụ đại lý: - Đối với đơn vị có hàng ký gửi: khi xuất hàng cho các đại lý hoặc các đơn vị nhận bán hàng ký gửi thì số hàng này vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp cho đến khi được tiêu thụ. Khi bán đươc hàng ký gửi, doanh nghiệp sẽ trả cho đại lý hoặc đơn vị nhận ký gửi một khoản hoa hồng tính theo tỷ lệ phần trăm trên giá ký gửi của số hàng ký gửi thực tế đã bán được.
Khoản hoa hồng phải trả này được doanh nghiệp hạch toán vào chi phí bán hàng. - Đối với đại lý hoặc đơn vị nhận bán hàng ký gửi: số sản phẩm hàng hóa nhận ký gửi không thuộc quyền sở hữu của đơn vị này. Doanh thu của các đại lý chính là SVTH: Nguyễn Thị Hương 6 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS: Trịnh Văn Sơn khoản hoa hồng được hưởng. Trong trường hợp đại lý bán đúng giá ký guwircuar chủ hàng và hưởng hoa hồng thì không phải tính và nộp thuế GTGT đối với hàng hóa bán đại lý và tiêu thụ về hoa hồng.
Phương thức bán hàng trả góp: Theo phương thức này, khi giao hàng cho người mua thì lượng hàng chuyển giao được xác định là tiêu thụ. Khách hàng sẽ thanh toán một phàn tiền hàng ở ngay lần đầu để được nhận hàng, phần còn lại sẽ được trả dần trong một thời gian nhất định và phải chịu một khoản lãi suất đã được quy định trước trong hợp đồng. Khoản lãi do bán trả góp không được phản ánh vào tài khoản doanh thu (TK 511), mà được hạch toán như một khoản doanh thu hoạt động tài chính (TK 515). Doanh thu bán hàng trả goóp phản ánh vào TK 511 được tính theo giá bán tại thời điểm thu tiền một lần.
Phương thức hàng đổi hàng: Theo phương thức này thì người bán đem sản phẩm hàng hóa của mình để đổi lấy sản phẩm, hàng hóa của người mua. Giá trao đổi là giá bán sản phẩm, hàng hóa đó trên thị trường. Xác định giá trị hàng xuất kho Việc xác định giá trị hàng xuất kho được sử dụng một trong hai phương pháp: kê khai thường xuyên và kiểm kê định ký. Việc lựa chọn phương pháp kế toán nào phù hợp tùy thuộc vào đặc điểm của bản thân, loại hàng tồn kho mà doanh nghiệp đang nắm giữ.
Lựa chọn phương pháp này hay phương pháp khác có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tính giá hàng tồn kho, do vậy DN cần nghiên cứu kỹ lưỡng để vận dụng một cách hiệu quả nhất. - Phương pháp kê khai thường xuyên Là phương pháp theo dõi và phản ánh một cách thường xuyên, liên tục tình hình nhập, xuất,tồn kho của hàng tồn kho như nguyên vật liệu, hàng hóa, sản phẩm trên sổ kế toán sau mỗi nghiệp vụ nhập xuất hàng tồn kho. Theo phương pháp kế toán kê khai thường xuyên, vào mọi thời điểm người ta có SVTH: Nguyễn Thị Hương 7 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.TS: Trịnh Văn Sơn thể tính được giá trị hàng tồn kho theo công thức dưới đây: TRỊ GIÁ HTK TRỊ GIÁ HTK TRỊ GIÁ HTK NHẬP TRỊ GIÁ HTK XUẤT CUỐI KỲ = ĐẦU KỲ + TRONG KỲ - TRONG KỲ - Phương pháp kiểm kê định kỳ Là phương pháp kế toán hàng tồn kho mà trong kỳ chỉ theo dõi các nghiệp vụ nhập vào, cuối kỳ tiến hành kiểm kê hàng tồn kho rồi từ đó xác định giá trị hàng tồn kho xuất trong kỳ theo công thức: TRỊ GIÁ HTK TRỊ GIÁ HTK TRỊ GIÁ HTK NHẬP TRỊ GIÁ HTK TRONG KỲ = ĐẦU KỲ + TRONG KỲ - TỒN CUỐI KỲ - Các phương pháp xác định giá trị hàng xuất kho: Theo Thông ty 200/2014/BTC, có 3 phương pháp tính giá xuất kho sau: phương pháp nhập trước xuất trước (FIFO), phương pháp tính giá đích danh, phương pháp tính giá đích danh. Theo phương pháp nhập trước xuất trước (FIFO): phương pháp này được áp dụng dựa trên giả định là giá trị hàng tồn kho được mua hoặc được sản xuất trước thì được xuất trước, và giá trị hàng tồn kho còn lại cuối kỳ là giá trị hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất gần thời điểm cuối kỳ.
Theo phương pháp này thì giá trị hàng xuất kho được tính theo giá của lô hàng nhập kho ở thời điểm đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ, giá trị của hàng tồn kho cuối kỳ được tính theo giá của hàng nhập kho ở thời điểm cuối kỳ hoặc gần cuối kỳ còn tồn kho. Theo phương pháp giá đích danh: Phương pháp này được áp dụng dựa trên giá trị thực tế của từng thứ hàng hóa mua vào, từng thứ sản phẩm bán ra nên chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp có ít mặt hàng hoặc mặt hàng ổn định và nhận diện được. Theo phương pháp tính giá bình quân: Vào cuối mỗi kỳ kế toán phải xác định đơn giá bình quân của hàng tồn kho đầu kỳ và nhập trong kỳ để tính giá xuất kho theo công thức sau đây: Trị giá HTK đầu kỳ + Trị giá HTK nhập trong kỳ Đơn giá bình quân cả kỳ = Số lượng HTK tồn đầu kỳ + Số lượng HTK nhập trong kỳ Ngoài ra, người ta có thể tính đơn giá bình quân sau mỗi lần nhập hoặc có thể tính đơn giá bình quân của hàng tồn kho cuối kỳ theo công thức sau đây: SVTH: Nguyễn Thị Hương 8 Khóa luận tốt nghiệp GVHD: PGS.