CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ KẾ TOÁN CÔNG NỢ VÀ PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH CÔNG NỢ TẠI DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan về kế toán công nợ 1. Khái niệm về kế toán công nợ “Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thường xuyên phát sinh mối quan hệ thanh toán giữa doanh nghiệp với người bán, người mua, cán bộ công nhân viên,. Các quan hệ thanh toán này là cơ sở phát sinh các khoản phải thu, khoản phải trả.
Kế toán khoản phải thu và nợ phải trả gọi chung là kế toán công nợ. Như vậy, kế toán công nợ là một phần hành kế toán có nhiệm vụ hạch toán các khoản phải thu, nợ phải trả diễn ra liên tục trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.” (Nguyễn Tấn Bình, 2011, “Kế toán tài chính”) Từ khái niệm trên, ta có thể thấy kế toán công nợ là một trong số bộ phận có vai trò rất quan trọng trong việc kiểm soát và quản lý tình hình công nợ của doanh nghiệp. Khái niệm và phân loại các khoản nợ phải thu a. Khái niệm: “Các khoản phải thu trong doanh nghiệp xác định quyền lợi của doanh nghiệp về một khoản tiền, hàng hóa, dịch vụ.
mà doanh nghiệp sẽ thu về trong tương lai. Khoản nợ phải thu là một tài sản của doanh nghiệp đang bị các đơn vị, tổ chức kinh tế, cá nhân khác chiếm dụng mà doanh nghiệp có trách nhiệm phải thu hồi. Các khoản phải thu được kế toán của công ty ghi lại và phản ánh trên bảng cân đối kế toán, bao gồm các khoản nợ công ty chưa đòi được, tính cả các khoản nợ chưa đến hạn thanh toán. Phân loại: - Phân loại các khoản phải thu theo thời hạn: 5 + Khoản phải thu ngắn hạn: là các khoản phải thu có thời hạn không quá 12 tháng, hoặc lớn hơn một chu kỳ kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp.
+ Khoản phải thu dài hạn: là các khoản phải thu có thời hạn trên 12 tháng hoặc lớn hơn trên một chu kỳ kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp. - Phân loại các khoản phải thu theo đối tượng thu: Các khoản phải thu khách hàng, các khoản phải thu nội bộ, các khoản phải thu khác 1. Khái niệm và phân loại các khoản nợ phải trả a. Khái niệm: “ Nợ phải trả là nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp phát sinh từ các giao dịch sự kiện đã qua như mua hành hóa trưa trả tiền, sử dụng dịch vụ chưa thanh toán, vay nợ, cam kết bảo hành hàng hóa, cam kết nghĩa vụ hợp đồng, phải trả nhân viên, thuế phải nộp, phải trả khác mà doanh nghiệp phải thanh toán từ nguồn lực của mình.
Phân loại: - Các khoản nợ phải trả dựa trên thời hạn được chia thành 2 loại: + Nợ phải trả ngắn hạn: là những khoản nợ, doanh nghiệp có phải thanh toán trong khoảng 12 tháng từ ngày kết thúc kỳ kế toán năm. Thường là khoản nợ phát sinhh trong các hoạt động kinh doanh hàng ngày như thuế và các khoản phải nộp nhà nước, nợ phải trả người bán, nợ công nhân viên,. + Nợ phải trả dài hạn: Là những khoản nợ, doanh nghiệp phải thanh toán sau 12 tháng từ ngày kế thúc kỳ kế toán. Ví dụ như trái phiếu phát hành, nợ thuế tài sản tài chính, các khoản vay dài hạn ngân hàng,.
Quan hệ thanh toán Quan hệ thanh toán là mối quan hệ kinh doanh mà khi doanh ghiệp thực hiện các mối quan hệ mua bán và có sự trau dồi về một số khoản vay nợ tiền vốn cho kinh doanh. Trong mối quan hệ này luôn tồn tại những cam kết vay nợ giữa chủ nợ và con 6 nợ về một số khoản tiền theo thỏa thuận giữa 2 bên và có hiệu lực trong một khoản thời gian vay nợ nhất định. Nguyên tắc hạch toán kế toán công nợ 1. Nguyên tắc kế toán phải thu Theo Điều 16, Thông tư 133/2016/TT – BTC quy định như sau: - Các khoản phải thu được theo dõi chi tiết theo kỳ hạn phải thu, đối tượng phải thu, loại nguyên tệ phải thu và các yếu tố khác theo nhu cầu quản lý của doanh nghiệp.
- Việc phân loại các khoản phải thu là phải thu của khách hàng, phải thu nội bộ, phải thu khác được thực hiện theo nguyên tắc: + Phải thu của khách hàng gồm các khoản phải thu mang tính chất thương mại phát sinh từ giao dịch có tính chất mua – bán. + Phải thu nội bộ gồm các khoản phải thu giữa đơn vị cấp trên với đơn vị cấp dưới trực thuộc không có tư cách pháp nhân hạch toán phụ thuộc (sau đây gọi là đơn vị hạch toán phụ thuộc). + Phải thu khác gồm các khoản phải thu không có tính chất thương mại, không liên quan đến giao dịch mua – bán. - Khi lập Báo cáo tài chính, kế toán căn cứ kỳ hạn còn lại của các khoản phải thu để phân loại là dài hạn hoặc ngắn hạn.
Các chỉ tiêu phải thu của Báo cáo tình hình tài chính còn bao gồm cả các khoản được phản ánh ở các tài khoản khác ngoài các tài khoản phải thu, như: Khoản cho vay được phản ánh ở TK 1288; Khoản ký quỹ, ký cược phản ánh ở TK 1386, khoản tạm ứng được phản ánh ở TK 141… Việc xác định các khoản cần lập dự phòng phải thu khó đòi được căn cứ vào các khoản mục được phân loại là phải thu ngắn hạn, dài hạn của Báo cáo tình hình tài chính. - Đối với các khoản phải thu bằng ngoại tệ, doanh nghiệp phải theo dõi chi tiết các khoản nợ phải thu theo từng loại nguyên tệ, từng đối tượng công nợ. Nguyên tắc kế toán phải trả Theo điều 39, Thông tư 133/2016/TT-BTC quy định như sau: - Các khoản nợ phải trả được theo dõi chi tiết theo kỳ hạn phải trả, đối tượng phải trả, loại nguyên tệ phải trả và các yếu tố khác theo nhu cầu quản lý của doanh nghiệp. - Việc phân loại các khoản phải trả là phải trả người bán, phải trả nội bộ, phải trả khác được thực hiện theo nguyên tắc: + Phải trả người bán gồm các khoản phải trả mang tính chất thương mại phát sinh từ giao dịch mua hàng hóa, dịch vụ, tài sản.
Khoản phải trả này gồm cả các khoản phải trả khi nhập khẩu thông qua người nhận ủy thác. + Phải trả nội bộ gồm các khoản phải trả giữa đơn vị cấp trên và đơn vị cấp dưới trực thuộc hạch toán phụ thuộc. + Phải trả khác gồm các khoản phải trả không có tính thương mại, không liên quan đến giao dịch mua, bán, cung cấp hàng hóa dịch vụ - Khi lập Báo cáo tài chính, kế toán căn cứ kỳ hạn còn lại của các khoản phải trả để phân loại là dài hạn hoặc ngắn hạn. - Đối với các khoản phải trả bằng ngoại tệ, doanh nghiệp phải theo dõi chi tiết các khoản nợ phải trả theo từng loại nguyên tệ, từng đối tượng thanh toán.
Chức năng và nhiệm vụ của kế toán công nợ 1. Chức năng kế toán công nợ Kế toán công nợ là một phần hành kế toán vô cùng quan trọng trong công tác kế toán của doanh nghiệp. Việc giám sát chặt chẽ các khoản nợ, khoản phải trả, khoản phải thu có thể giúp công ty tránh khỏi việc bị chiếm dụng vốn và tận dụng tối đa hóa việc sử dụng vốn từ các công ty, tổ chức khác, đồng thời phải đảm bảo đủ khả năng thanh toán góp phần quan trọng vào việc giữ vững chữ tín của công ty trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Ngoài ra, việc quản lý kế toán công nợ hiệu quả cũng góp phần không nhỏ vào việc cải thiện tình hình tài chính của doanh nghiệp.
Nhiệm vụ của kế toán công nợ Kế toán công nợ có nhiệm vụ chính là phân tích, đánh giá, theo dõi và tham mưu để ban lãnh đạo có thể đưa ra những quyết định đúng đắn trong toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh. Cụ thể, điều này bao gồm: - Các khoản nợ phải thu, nợ phải trả phải được tính toán, phản ánh, ghi chép một cách chính xác, đầy đủ và kịp thời theo từng đối tượng về số nợ phải trả, nợ phải thu, số nợ còn phải thu – phải trả hay nợ đã thu – nợ đã trả. - Hệ thống chứng từ sổ sách và phần mềm kế toán phải được ghi chép kịp thời và chính xác - Việc chấp hành các chế độ, các quy định về quản lý những khoản nợ phải thu, nợ phải trả phải được giám sát, kiểm tra chặt chẽ. - Các khoản nợ trong hạn, đến hạn, quá hạn hoặc khó thu, khó trả.
cần được tổng hợp và xử lý nhanh chóng. Từ đó, giúp công tác quản lý công nợ tốt hơn, giúp cải thiện và ổn định tình hình tài chính doanh nghiệp một cách hiệu quả. Nội dung công tác kế toán công nợ trong doanh nghiệp 1. Kế toán các khoản phải thu khách hàng a.
Chứng từ sử dụng: - Hợp đồng kinh tế ( hợp đồng bán hàng) - Hóa đơn bán hàng - Phiếu xuất kho - Hóa đơn GTGT - Phiếu thu - Giấy báo Có của ngân hàng - Biên bản bù trừ công nợ. Hệ thống sổ sách kế toán sử dụng - Sổ cái TK 131 - Sổ chi tiết bán hàng - Sổ chi tiết TK 131 - Sổ chi tiết thanh toán người mua c. Tài khoản sử dụng Kế toán sử dụng tài khoản 131 – ‘Phải thu của khách hàng’ để theo dõi các khoản nợ phải thu của khách hàng. Ngoài TK 131, kế toán còn sử dụng các tài khoản liên quan khác như: TK 111, TK 112, TK 331, TK 511, TK 711,.
Nguyên tắc kế toán Theo Điều 17, Thông tư 133/2016/TT – BTC quy định như sau: - Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản nợ phải thu và tình hình thanh toán các khoản nợ phải thu của doanh nghiệp với khách hàng về tiền bán sản phẩm, hàng hóa, BĐSĐT, TSCĐ, các khoản đầu tư tài chính, cung cấp dịch vụ. Tài khoản này còn dùng để phản ánh các khoản phải thu của người nhận thầu XDCB với người giao thầu về khối lượng công tác XDCB đã hoàn thành. Không phản ánh vào tài khoản này các nghiệp vụ thu tiền ngay. - Khoản phải thu của khách hàng cần được hạch toán chi tiết cho từng đối tượng, từng nội dung phải thu, theo dõi chi tiết kỳ hạn thu hồi (trên 12 tháng hay không quá 12 tháng kể từ thời điểm lập báo cáo) và ghi chép theo từng lần thanh toán.
Đối tượng phải thu là các khách hàng có quan hệ kinh tế với doanh nghiệp về mua sản phẩm, hàng hóa, nhận cung cấp dịch vụ, kể cả TSCĐ, bất động sản đầu tư, các khoản đầu tư tài chính.