Đặt vấn đề Phần II: Nội dung và kết quả nghiên cứu. Phần này đƣợc chia làm 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng I: Cơ sở lý luận về phân tích cổ phiếu Chƣơng II: Phân tích cổ phiếu VCB của Ngân hàng TMCP Ngoại Thƣơng Việt Nam Chƣơng III: Kết quả phân tích, nhận định và chiến lƣợc đầu tƣ cổ phiếu VCB của Ngân hàng TMCP Ngoại Thƣơng Việt Nam. Phần III: Kết luận và kiến nghị. 3 PHẦN II: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH CỔ PHIẾU I.
Tổng quan về cổ phiếu, rủi ro và định giá cổ phiếu 1. Những vấn để cơ bản về chứng khoán và phân tích chứng khoán 1. Khái niệm Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán đƣợc thể hiện dƣới hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, bao gồm các loại sau đây: - Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ - Quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tƣơng lai, nhóm chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán.
- Hợp đồng góp vốn đầu tƣ - Các loại chứng khoán khác do Bộ Tài chính quy định. Đặc điểm Tính thanh khoản Tính thanh khoản bao gồm: khả năng chuyển tài sản thành tiền mặt tại mức giá gần với giá hợp lý thị trƣờng và khả năng mua và bán một số tài sản nhanh chóng với giá thay đổi ít so với phiên giao dịch trƣớc (giả sử không có thông tin nào mới). Tính thanh khoản phụ thuộc vào: thời gian chuyển đổi và rủi ro của việc giám sút giá trị của tài sản do chuyển đổi Đo lƣờng: đo lƣờng tính thanh khoản qua các chỉ số nhƣ: khối lƣợng giao dịch, giá trị vốn hóa. Tính sinh lời Tính sinh lời hay lợi nhuận biểu hiện: là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí.
Là tổng mức lãi hoặc lỗ của một khoản đầu tƣ trong một khoản thời gian nhất định. Đo lƣờng: lợi nhuận tuyệt đối, lợi nhuận tƣơng đối, lợi nhuận quá khứ, lợi nhuận kì vọng. 4 Tính rủi ro Theo Reilly.K rủi ro là: - Là sự không chắc chắn của thu nhập trong tƣơng lai - Là sự không chắc chắn mà một khoản đầu tƣ sẽ thu đƣợc lợi tức - Xác suất của việc xảy ra kết quả không mong đợi - Là mức độ xác suất mà một tài sản có thể tăng hoặc giảm giá trị - Khả năng xảy ra các biến cố không lƣờng trƣớc, khi xảy ra, thu nhập thực tế khác so với thu nhập dự tính - Là sự chênh lệch giữa lợi nhuận kỳ vọng và lợi nhuận thực tế. Đo lƣờng: rủi ro có thể đƣợc đo lƣờng thông qua chỉ số phƣơng sai, hiệp phƣơng sai, hệ số.
Phân loại Theo tính chất - Chứng khoán vốn: là chứng nhận sự góp vốn kinh doanh vào công ty cổ phần. Đó là các loại cổ phiếu, bao gồm cổ phiếu thƣờng và cổ phiếu ƣu đãi. - Chứng khoán nợ: là chứng nhận nợ do Nhà nƣớc hoặc doanh nghiệp phát hành khi cần huy động vốn cho các mục đích tài trợ dài hạn. Điểm hình là các loại trái phiếu.
- Chứng khoán phái sinh: là chứng khoán mà giá trị của nó đƣợc suy ra từ giá của các loại chứng khoán khác. Theo khả năng chuyển nhƣợng - Chứng khoán vô danh: trên các chứng nhận nợ hay góp vốn không có ghi tên ngƣời sở hữu. Loại chứng khoán này có thể dễ dàng mua bán chuyển đổi trên TTCK. - Chứng khoán ghi danh: là loại chứng khoán mà tên ngƣời sở hữu đƣợc lƣu giữ trong hồ sơ của chủ thể phát hành cũng nhƣ trên tờ giấy chứng khoán.
Việc chuyển nhƣợng phải tuân theo các quy định pháp lý cụ thể. Theo thu nhập - Chứng khoán có thu nhập ổn định: chứng khoán này đƣợc hƣởng lợi tức ổn định theo tỷ lệ lãi suất tính trên mệnh giá chứng khoán. Điểm hình là trái phiếu. - Chứng khoán có thu nhập biến đổi: là loại chứng khoán mà nhà đầu tƣ yêu cầu tỷ suất sinh lời cao hơn và thƣờng có rủi ro cao hơn và thu nhập từ chứng khoán này không ổn định.
Điểm hình là cổ phiếu phổ thông. 5 - Chứng khoán hỗn hợp: bao gồm tính chất của hai loại chứng khoán trên. Thị trƣờng chứng khoán 1. Một số khái niệm về thị trường chứng khoán TTCK là một tổ chức, là nơi các chứng khoán đƣợc mua, bán theo quy tắc đã đƣợc quy định trƣớc.
TTCK là nơi giao dịch các giấy tờ có giá, các chứng khoán đƣợc thực hiện một cách có tổ chức trong một hế thống luật chặt chẻ. TTCK là thị trƣờng cổ phiếu (Stock –Market). TTCK là nơi giao dịch, trao đổi, mua bán các loại chứng khoán. Sơ lược về TTCK Việt Nam Do sự phát triển của nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng , cùng với đó nhu cần vốn trung và dài hạn cho đầu tƣ và phát triển ngày càng cao.
Để huy động đƣợc vốn trung và dài hạn, bên cạnh việc đi vay tại các tổ chức tín dụng thì Chính phủ và doanh nghiệp còn huy động vốn thông qua hình thức phát hành chứng khoán. Để đáp ứng đƣợc nhu cầu vốn cho thị trƣờng thì TTCK Việt Nam ra đời. Tháng 7/2000: Thị trƣờng giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh đi vào hoạt động với 2 công ty niêm yết đầu tiên là Công ty cổ phần Cơ điện lạnh – mã cổ phiếu REE và Công ty cổ phần Cáp và vật liệu Viễn thông – mã cổ phiếu SAM. Chỉ số VNIndex: 100 Tháng 03/2005: Thị trƣờng giao dịch chứng khoán Hà Nội đi vào hoạt động với 6 cổ phiếu niêm yết và chỉ số HNX Index: 100.
Sau khi Thị trƣờng giao dịch Hà Nội đi vào hoạt động, thì tổng số các công ty niêm yết trên cả hai thị trƣờng là 44 công ty với tổng giá trị niêm yết là 4.94 nghìn tỷ đồng. Tháng 08/2007 Thị trƣờng giao dịch chứng khoán TP HCM đổi tên thành Sở giao dịch chứng khoán (SGDCK) TP HCM. Tháng 01/2009 Thị trƣờng giao dịch chứng khoán Hà Nội đổi tên thành Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội. Thị trƣờng chứng khoán Việt Nam đã có sự tăng trƣởng không chỉ về quy mô niêm yết mà cả về tính thanh khoản của thị trƣờng.
Tính đến ngày 23/2/2017 số cổ phiếu niêm yết ở SGDCK TP HCM là 301, cổ phiếu niêm yết ở SGDCK Hà Nội là 380. Phân tích chứng khoán Phân tích chứng khoán là bƣớc khởi đầu cho hoạt động đầu tƣ chứng khoán. Mục tiêu của PTCK là giúp cho nhà đầu tƣ chứng khoán lựa chọn đƣợc các quyết định đầu tƣ chứng khoán có hiệu quả nhất, mang lại lợi nhuận tối đa với rủi ro tối thiểu. Kết quả phân tích CK phải làm rõ đƣợc các căn cứ cho sự lựa chọn quyết định đầu tƣ.
Nó phải trả lời đƣợc các câu hỏi cơ bản: khi nào nên đầu tƣ, nên đầu tƣ vào loại chứng khoán nào và với giá cả ra sao, khi nào thì nên rút khỏi ra thị trƣờng. Để đạt đƣợc kết quả đó,việc phân tích chứng khoán cần đƣợc tiến hành theo một quy trình cụ thể và khoa học. Về lý thuyết phƣơng pháp PTCK có thể theo quy trình từ trên xuống hoặc từ dƣới lên. Theo phƣơng pháp phân tích từ trên xuống, ngƣời ta thƣờng bắt đầu từ những phân tích khái quát về tình hình kinh tế vĩ mô (phân tích vĩ mô) cả trong nƣớc và quốc tế, xem xét những ảnh hƣởng, tác động của nó đến hoạt động của doanh nghiệp và TTCK, sau đó mới đi đến phân tích tình hình hoạt động của ngành kinh doanh (phân tích ngành) và cuối cùng là hoạt động của từng doanh nghiệp, công ty riêng biệt.
Ƣu điểm nổi bật của quy trình phân tích này đảm bảo tính hệ thống, phù hợp với logic nhận thức. Do mục tiêu cuối cùng của hoạt động phân tích đầu tƣ chứng khoán là đi tới một quyết định đầu tƣ cụ thể (đầu tƣ vào loại chứng khoán nào, giá cả ra sao), vì thế nó đƣợc sử dụng khá phổ biến trong phân tích đầu tƣ chứng khoán. Ngƣợc lại với trình tự trên, phƣơng pháp PTCK dƣới lên lại bắt đầu từ phân tích, đánh giá hoạt động kinh doanh của một công ty cụ thể và đặt nó trong mối liên hệ tƣơng quan giữa hoạt động của công ty với môi trƣờng kinh doanh bên ngoài là tình hình hoạt động của ngành hoặc nền kinh tế. Do đặc điểm trên, phƣơng pháp này tỏ ra thích hợp hơn đối với các tổ chức có vai trò tổ chức, quản lý và giám sát hoạt động của TTCK hơn là đối với nhà đầu tƣ chứng khoán.
Chứng khoán niêm yết 1. Khái niệm Niêm yết chứng khoán: là việc đƣa các chứng khoán có đủ điều kiện niêm yết vào giao dịch tại SGDCK. Chứng khoán niêm yết là cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tƣ chứng khoán đại chúng dạng đóng, cổ phiếu của công ty đầu tƣ chứng khoán và các loại chứng khoán khác đƣợc chấp nhận niêm yết tại SGDCK. 7 Tổ chức niêm yết là tổ chức phát hành có chứng khoán niêm yết tại SGDCK.
Điều kiện niêm yết: Nhìn chung ở mỗi SGDCK có điều kiện niêm yết khác nhau, ở SGDCK TP Hồ Chí Minh có điều kiện niêm yết chứng khoán cao hơn so với SGDCK Hà Nội. Điều kiện niêm yết chứng khoán tại SGDCK TP Hồ Chí Minh: - Là công ty cổ phần có vốn đều lệ đã góp tại thời điểm đăng ký niêm yết từ 120 tỷ đồng Việt Nam trở lên tính theo giá trị ghi trên sổ kế toán. - Có ít nhất 02 năm hoạt động dƣới hình thức công ty cổ phần tính đến thời điểm đăng kí niêm yết (ngoại trừ doanh nghiệp nhà nƣớc cổ phần hóa gắng với niêm yết), tỷ lệ lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu (ROE) năm gần nhất tối thiếu là 5% và hoạt động kinh doanh của hai năm liền trƣớc năm đăng ký niêm yết phải có lãi, không có các khoản nợ phải trả quá hạn trên 01 năm, không có lỗ lũy kế tính đến năm đăng ký niêm yết, tuân thủ các quy định của pháp luật về kế toán báo cáo tài chinh. - Công khai mọi khoản nợ đối với công ty của thành viên Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Giám đốc (Tổng Giám đốc), Phó Giám đốc (Phó Tổng Giám đốc), Kế toán trƣởng, cổ đông lớn và những ngƣời có liên quan.