Chương I : Tổng quan nghiên cứu đề tài. Chương II: Lý luận cơ bản về phân tích chi phí kinh doanh. Chương III: Phương pháp nghiên cứu đề tài và kết quả phân tích tình hình chi phí kinh doanh tại công ty TNHH KHKT VIETLAB Chương IV: Các giải pháp nhằm tiết kiệm chi phí kinh doanh tại công ty TNHH khoa học kỹ thuật VIETLAB. Dương Thị Phương Thảo Lớp : 12N Luan van Luận văn tốt nghiệp Kế toán tài chính - ĐHTM Chương 2: LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÂN TÍCH CHI PHÍ KINH DOANH.1 Khái niệm, phân loại và vai trò của chi phí kinh doanh.1 Khái niệm, đặc điểm của chi phí kinh doanh.
Chi phí kinh doanh là giá trị toàn bộ những hao phí lao động xã hội cần thiết (gồm cả lao động sống và lao động vật hoá) để thực hiện việc sản xuất và cung ứng các sản phẩm trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp. Lao động sống bao gồm lương nhân viên, những khoản bảo hiểm, chi phí công đoàn có tính chất lương… Lao động vật hoá như khấu hao tài sản cố định, bao bì và công cụ dụng cụ sử dụng trong quá trình kinh doanh… Đối với doanh nghiệp thương mại, chi phí kinh doanh thương mại là những khoản chi phí băng tiền hoặc tài sản mà doanh nghiệp bỏ ra để thực hiện hoạt động kinh doanh thương mại. Về bản chất, đó là những khoản tiêu hao về lao động sống và lao động vật hoá trong quá trình hoạt động kinh doanh. Tổng CP= Giá vốn hàng bán + CP bán hàng + CP quản lý.
Tổng CP = (Trị giá mua hàng + CP thu mua) + CP bán hàng + CP quản lý. Tổng CP = Trị giá mua hàng + (CP thu mua + CP bán hàng + CP quản lý) Tổng CP = Trị giá mua hàng + CP kinh doanh.2 Phân loại chi phí kinh doanh. Chi phí kinh doanh bao gồm nhiều loại có nội dung công dụng và tính chất khác nhau. Để việc quản lý, sử dụng chi phí kinh doanh và hạch toán được thuận tiện cần tiến hành phân loại chi phí kinh doanh.
Chi phí kinh danh được phân loại theo các tiêu thức khác nhau như: Phân loại chi phí kinh doanh theo bản chất kinh tế của chi phí. Theo tiêu thức này chi phí kinh doanh được phân thành chi phí bổ sung và chi phí thuần tuý. Dương Thị Phương Thảo Lớp : 12N Luan van Luận văn tốt nghiệp Kế toán tài chính - ĐHTM +, Chi phí bổ sung là những khoản chi nhằm tiếp tục và hoàn chỉnh quá trình sản xuất hàng hoá trong khâu lưu thông. +, Chi phí thuần tuý là những khoản chi nhằm mục đích chuyển hoá hình thái giá trị của hàng hoá.
Phân loại chi phí kinh doanh theo mức độ tham gia của hoạt động kinh doanh. Theo tiêu thức này chi phí kinh doanh được phân thành chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp. Chi phí trực tiếp là chi phí tự bản thân nó được chuyển vào một bộ phận do có mối quan hệ thực sự chặt chẽ giữa chi phí đó và bộ phận làm phát sinh ra nó hay nói cách khác, chi phí trực tiếp là những chi phí phát sinh một cách riêng biệt cho một hoạt động cụ thể của doanh nghiệp (một sản phẩm, một dịch vụ) : chi phí nguyên liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp.Khi bộ phận bị mất đi thì chi phí trực tiếp không tồn tại và ngược lại. Các chi phí này có thể tính thẳng vào giá thành một cách trực tiếp mà không ảnh hưởng đến việc sản xuất các sản phẩm khác Chi phí gián tiếp: là chi phí có liên quan đến việc sản xuất nhiều loại sản phẩm hoặc dịch vụ, phải qua quá trình phân bổ mới trở thành chi phí của một bộ phận: phí sản xuất chung.
Mối quan hệ giữa một yếu tố chi phí gián tiếp và bộ phận sử dụng nó được hình thành thông qua một mối quan hệ trung gian khác. Các chi phí gián tiếp không phát sinh và mất đi cùng với sự phát sinh và mất đi của một hoạt động sản xuất – kinh doanh cụ thể (ví dụ: chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí quản trị doanh nghiệp. Phân loại chi phí kinh doanh căn cứ vào tính chất biến đổi của chi phí. Với mục đích chú ý đến sự thay đổi của chi phí kinh doanh trong mối liên quan đến sự thay đổi của sản lượng, người ta chia toàn bộ chi phí kinh doanh thành chi phí kinh doanh cố định (bất biến), chi phí kinh doanh biến đổi (khả biến) +, Chi phí cố định (chi phí bất biến) là các khoản chi phí không thay đổi hay ít thay đổi khi sản lượng hay doanh thu tiêu thụ thay đổi.
+, Chi phí biến đổi (chi phí khả biến) là các khoản chi phí luôn luôn biến động khi sản lượng hay doanh thu tiêu thụ thay đổi. Dương Thị Phương Thảo Lớp : 12N Luan van Luận văn tốt nghiệp Kế toán tài chính - ĐHTM Các chi phí không thay đổi theo sản lượng sản xuất và tiêu thụ doanh của doanh nghiệp gọi là chi phí cố định (định phí). Chi phí này bao gồm chi phí khấu hao tài sản cố định, chi phí nhân viên quản lý… Các chi phí thay đổi theo sản lượng sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp gọi là chi phí biến đổi ( biến phí). Chi phí này bao gồm: chi phí vận chuyển bốc dỡ hàng hoá, chi phí bảo quản, đóng gói bao bì… Phân loại chi phí theo nguồn chi phí phát sinh: Theo tiêu thức này chi phí kinh doanh được phân chia thành chi phí ban đầu và chi phí chuyển đổi.
Chi phí nguyên liệu trực tiếp kết hợp với chi phí tiền lương trực tiếp được gọi là chi phí ban đầu. Chi phí này có tác dụng phản ánh mức chi phí đầu tiên, chủ yếu của sản phẩm, đồng thời phản ánh mức chi phí riêng biệt, cụ thể từng đơn vị sản phẩm mà ta nhận diện ngay trong tiến trình sản xuất, và là cơ sở lập kế hoạch về lượng chi phí chủ yếu cần thiết nếu muốn sản xuất sản phẩm đó Chi phí tiền lương trực tiếp kết hợp với chi phí sản xuất chung được gọi là chi phí chuyển đổi. Chi phí này có tác dụng phản ánh mức chi phí cần thiết để chuyển đổi nguyên liệu từ dạng thô sang dạng thành phẩm, và là cơ sở để lập kế hoạch về lượng chi phí cần thiết để chế biến một lượng nguyên liệu nhất định thành thành phẩm. Phân loại chi phí kinh doanh theo chức năng hoạt động của doanh nghiệp.
Theo tiêu thức này chi phí kinh doanh được phân thành chi phí mua hàng, chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp. +, Chi phí mua hàng là khoản chi phí nhằm mục đích hình thành nguồn hàng phục vụ bán ra, Chi phí mua hàng như chi phí nhằm tìm kiếm nguồn hàng, chi phí vận chuyển bao gói, bảo quản… +, Chi phí bán hàng là khoản chi phí như lương nhân viên bán hàng, chi phí marketing, khấu hao tài sản cố định dùng trong bán hàng (cửa hàng, phương tiện vận tải…) và các yếu tố mua ngoài liên quan. +, Chi phí quản lý doanh nghiệp là những khoản chi phí như lương của cán bộ, nhân viên quản lý doanh nghiệp, khấu hao tài sản cố định dùng trong quản lý (văn phòng, máy tính…) và các yếu tố mua ngoài liên quan khác. Phân loại chi phí kinh doanh theo nội dung kinh tế và yêu cầu hạch toán.
Dương Thị Phương Thảo Lớp : 12N Luan van Luận văn tốt nghiệp Kế toán tài chính - ĐHTM Theo tiêu thức này thì chi phí kinh doanh được phân thành: +, Chi phí nhân viên. +, Chi phí nguyên liệu, vật liệu. +, Chi phí công cụ, đồ dùng. +, Chi phí khấu hao tài sản cố định.
+, Chi phí vận chuyển thuê ngoài. +, Chi phí điện, nước, điện thoại. +, Chi phí lãi vay +, Chi phí bằng tiền khác.3 Vai trò của chi phí kinh doanh. Việc quản lý chi phí kinh doanh một cách hợp lí sẽ đem lại hiệu quả cao cho doanh nghiệp, cho người lao động trong doanh nghiệp cũng như cho toàn xã hội: Đối với doanh nghiệp: • Tạo điều kiện cho doanh nghiệp đạt mục tiêu lợi nhuận và hiệu quả kinh doanh.
• Tạo điều kiện cho doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh, nâng cao uy tín trên thị trường, tạo lập uy tín đối với người lao động, khách hàng, đối tác và tăng khả năng đầu tư trong tương lai • Tạo cho doanh nghiệp lòng tin vào bản thân, đặt cơsở khoa học và thực tiễn trong quản lý kinh doanh. Đối với người lao động: Giảm chi phí hợp lý cho phép doanh nghiệp có cơ hội tăng lợi nhuận, từ đó đảm bảo tốt hơn cho đời sống người lao động ổn định, tạo việc làm mới, tăng lưong tăng thưởng và nâng cao phúc lợi xã hội. Đối với xã hội: Giảm chi phí hợp lý cho phép doanh nghiệp thực hiện các nhiệm vụ cần thiết đối với xã hội, bảo vệ môi trường, đóng thuế và đóng bảo hiểm xã hội.2 Nội dung phân tích chi phí kinh doanh.1 Phân tích chung sự biến động của chi phí kinh doanh trong mối liên hệ với chỉ tiêu doanh thu. Dương Thị Phương Thảo Lớp : 12N Luan van Luận văn tốt nghiệp Kế toán tài chính - ĐHTM +, Tỷ suất chi phí là tỉ số hoặc tỉ lệ phần trăm so sánh giữa tổng chi phí kinh doanh và doanh thu đạt được trong một thời kì nhất định (có thể là một năm, một quý, một tháng) của doanh nghiệp.
Công thức: F’ = F/M x 100 F’ : tỷ suất chi phí của doanh nghiệp. F : tổng chi phí kinh doanh. D : tổng doanh thu. Ý nghĩa của tỉ suất chi phí: Tỷ suất chi phí là chỉ tiêu chất lượng phản ánh trong một thời kì nhất định, để đạt được một đồng doanh thu, doanh nghiệp cần phải bỏ ra bao nhiêu đồng chi phí.
Chỉ tiêu này có thể sử dụng để so sánh giữa các thời kì với nhau trong một doanh nghiệp hoặc giữa các doanh nghiệp cùng kinh doanh trong một lĩnh vực trong cùng một thời kì với nhau. +, Mức tăng (giảm) chi phí: chỉ tiêu này đánh giá doanh nghiệp có quản lý tốt chi phí hay không qua việc so sánh tỉ suất chi phí giữa kì này với kỳ trước hoặc kì thực hiện với kì kế hoạch và chỉ tiêu này biểu hiện dưới dạng số tương đối: Δ F’ = F’1 – F’0 Trong đó : Δ F’ : mức độ tăng hoặc giảm chi phí.