phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, cấu trúc của luận án gồm 4 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của việc phân tích cấu trúc các tổng hợp thể tự nhiên phục vụ sử dụng hợp lý tài nguyên, phát triển bền vững. Chƣơng 2: Phân tích đa dạng cấu trúc tổng hợp thể tự nhiên tỉnh Thái Nguyên. Chƣơng 3: Đánh giá các tổng hợp thể tự nhiên tỉnh Thái Nguyên phục vụ phát triển bền vững nông, lâm nghiệp. Chƣơng 4: Định hƣớng không gian tổ chức sản xuất nông, lâm nghiệp tỉnh Thái Nguyên.
6 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH CẤU TRÚC CÁC TỔNG HỢP THỂ TỰ NHIÊN PHỤC VỤ SỬ DỤNG HỢP LÝ TÀI NGUYÊN, PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 1. SỰ TƢƠNG ĐỒNG Ý NGHĨA CỦA KHÁI NIỆM TỔNG HỢP THỂ TỰ NHIÊN VÀ CẢNH QUAN ĐƢỢC SỬ DỤNG TRONG LUẬN ÁN Quan điểm chính của địa lý tự nhiên hiện đại là quan điểm về mối quan hệ và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các hợp phần tự nhiên cấu thành nên các THTTN ở các cấp khác nhau, có thể là ở cấp nhỏ cho đến cấp lớn nhất là hành tinh. Cảnh quan học là một bộ phận của địa lý tự nhiên, nghiên cứu các tổng hợp thể tự nhiên ở qui mô khu vực và địa phƣơng nhƣ những bộ phận cấu trúc của lớp vỏ địa lý (Ixatrenko,1991). Các hợp phần tự nhiên trong lớp vỏ địa lý có mối quan hệ tƣơng hỗ với nhau, phụ thuộc lẫn nhau.
Mối quan hệ qua lại và phụ thuộc của các hợp phần địa lý đã tạo nên các tổng hợp thể vật chất phức tạp, đó là các tổng hợp thể tự nhiên các cấp. Khái niệm CQ đƣợc sử dụng lần đầu tiên vào cuối thế kỉ XIX. Theo tiếng Đức: cảnh quan nghĩa là phong cảnh (Die Landschaft). Cho đến nay, trên Thế giới còn tồn tại nhiều trƣờng phái nghiên cứu CQ và đã hình thành nên các quan niệm CQ khác nhau.
Theo các tài liệu về nghiên cứu CQ có ba quan niệm cảnh quan cùng song song tồn tại (tuỳ theo nội dung nghiên cứu muốn diễn đạt): CQ là một khái niệm chung, đồng nghĩa với địa tổng thể, địa hệ (F.); CQ là đơn vị mang tính kiểu loại, là các đơn vị phân loại (B.); CQ là các đơn vị cá thể, là các đơn vị phân vùng (N.Ixatrenko, Vũ Tự Lập. Trong nghiên cứu Địa lí tổng hợp, CQ đều đƣợc hiểu theo cả ba khái niệm trên và đều có giá trị ứng dụng. Các nhà nghiên cứu CQ thƣờng sử dụng hai quan niệm CQ là kiểu loại và CQ là cá thể. Trong đó, quan niệm kiểu loại đƣợc sử dụng phổ biến hơn.
Theo các tác giả Nguyễn Cao Huần, Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Thành Long. dù xem CQ theo khía cạnh nào đi chăng nữa thì cảnh quan vẫn đƣợc xem là một tổng hợp thể tự nhiên, còn sự khác biệt của các quan niệm trên ở chỗ coi cảnh 7 quan là đơn vị thuộc cấp phân vị nào, cảnh quan đƣợc xác định và thể hiện trên bản đồ theo cách thức nào, theo cách qui nạp hay diễn giải. [34],[36],[50],[67],[88] Đối với tỉnh Thái Nguyên, các THTTN mà tác giả nghiên cứu trong luận án có sự tƣơng đồng với nội hàm CQ, bởi vì do nhiều quan niệm cảnh quan nhƣ đã phân tích, trên thực tế, lãnh thổ tỉnh Thái Nguyên lại đƣợc khai thác từ rất lâu nên hầu nhƣ không còn tính nguyên sinh của các CQ nên gọi là các THTTN, cũng nhƣ Vũ Tự Lập sau này đã gọi là các hệ địa lý mà không gọi là các CQ hay cá thể cảnh khi nghiên cứu trƣớc đó. Trong nội dung của luận án này, tác giả đã kế thừa các nghiên cứu đi trƣớc, coi cảnh quan là các tổng hợp thể tự nhiên mang tính kiểu loại, đƣợc gắn với các chỉ tiêu sinh thái và với mức độ tác động của con ngƣời.
Do vậy, trong quá trình tổng quan tài liệu nghiên cứu phục vụ mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài, tác giả đã tổng quan các công trình nghiên cứu về cấu trúc CQ và ĐGCQ cho mục đích sử dụng hợp lý lãnh thổ, PTBV. TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu cấu trúc cảnh quan và đánh giá cảnh quan cho mục đích sử dụng hợp lý lãnh thổ 1. Nghiên cứu trên thế giới a.
Tình hình nghiên cứu Khoa học cảnh quan Cảnh quan học là hƣớng nghiên cứu quan trọng trong hệ thống khoa học địa lý. Đây là môn khoa học mang tính tổng hợp cao nghiên cứu mối quan hệ tác động tƣơng hỗ giữa các các hợp phần tự nhiên, các quy luật phân hoá để ứng dụng trong quá trình phát triển kinh tế và xã hội. Hiện nay, khái niệm CQ đang đƣợc sử dụng trong nhiều lĩnh vực nhƣ kiến trúc, môi trƣờng, du lịch và địa lý. - Cảnh quan được hiểu là phong cảnh Khái niệm CQ đƣợc sử dụng lần đầu tiên ở các nƣớc phƣơng Tây vào đầu thế kỉ XIX với ý nghĩa là phong cảnh.
Quan niệm này hiện đang đƣợc sử dụng trong lĩnh vực quy hoạch đô thị và du lịch. - Cảnh quan được hiểu như một địa hệ thống Địa lý truyền thống của Nga về khoa học CQ đƣợc đặt nền móng phát triển thông qua nghiên cứu của V. Docutraev vào thế kỉ XIX. Thông qua việc nghiên cứu thổ nhƣỡng, ông đã đƣa ra những quan niệm đầu tiên về tổng hợp thể địa lý tự nhiên, nhận thấy tính chỉnh thể của tự nhiên, các thành phần tự nhiên có sự gắn kết 8 thành một thể thống nhất hài hòa.
Ông là ngƣời đầu tiên thực hiện nguyên tắc tổng hợp nghiên cứu các ĐKTN ở những địa phƣơng cụ thể, khởi xƣớng học thuyết về các đới tự nhiên. Docutraev, các ngƣời kế tục ông nhƣ N. đã phát triển thêm khái niệm CQ. Giai đoạn đầu thế kỉ XX đến trƣớc chiến tranh thế giới thứ hai, CQ học thực sự hình thành và phát triển ở hai nƣớc Nga và Đức, trở thành một khoa học độc lập với các công trình nghiên cứu tiêu biểu của L.
Từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, khoa học CQ ở Liên Xô và Nga mở rộng thực địa, thành lập bản đồ CQ và tăng cƣờng nghiên cứu lý luận. CQ học đã có bƣớc ngoặt trong việc nghiên cứu cấu trúc, chức năng và động lực, đi sâu nghiên cứu tính hoàn chỉnh, tính thứ bậc, tính tổ chức, cấu trúc - chức năng, trạng thái, tính bền vững. Các công trình tiêu biểu trong giai đoạn này phải kể đến của các tác giả nhƣ: N. Trong giai đoạn này, khoa học CQ cũng đƣợc phát triển ở nhiều nƣớc trên thế giới nhất là các nƣớc Tây Âu nhƣ: Tây Đức (cũ), Áo, Thụy Điển và một số nƣớc nói tiếng Anh nhƣ Mỹ, Anh, Úc, Canada, nhƣng chủ yếu mang tính ứng dụng.
[6],[50],[53],[54],[88] Dƣới góc độ địa lý học của trƣờng phái Xô Viết (gồm các nhà địa lý Nga và các nƣớc thuộc Liên Xô trƣớc đây), “cảnh quan” đƣợc hiểu theo 3 quan niệm khác nhau: + CQ là những cá thể địa lý không lặp lại trong không gian, là đơn vị cơ bản trong hệ thống phân vùng tự nhiên. Quan điểm này cho rằng CQ là đơn vị cơ bản của phân vùng địa lý tự nhiên. Theo quan điểm này, N.Ixatrenko cho rằng “Cảnh quan là một phần riêng biệt về mặt phát sinh của một hợp phần cảnh quan, một bối cảnh quan hay nói chung là một đơn vị phân vùng lớn bất kỳ, đặc trƣng bằng sự thống nhất cả tƣơng quan địa đới lẫn phi địa đới, có một cấu trúc riêng và một cấu tạo hình thái riêng”. 9 + CQ đồng nghĩa với khái niệm tổng hợp thể tự nhiên lãnh thổ ở các cấp khác nhau.[6],[34],[88],[113] Tác giả tán thành quan điểm này tiêu biểu là D.
Armand cho rằng "Tổng hợp thể lãnh thổ tự nhiên là một phần lãnh thổ hay khu vực đƣợc phân chia một cách ƣớc lệ bằng các ranh giới thẳng đứng theo nguyên tắc đồng nhất tƣơng đối và các ranh giới nằm ngang theo nguyên tắc mất dần ảnh hƣởng của nhân tố mà theo đó tổng thể đƣợc định ra.vì thuật ngữ tổng thể lãnh thổ hay khu vực tự nhiên rất dài, tuy chính xác nhƣng không thuận tiện nên tôi thay nó bằng thuật ngữ ngắn gọn là "cảnh quan"". + CQ là đơn vị mang tính kiểu loại.[34],[88],[113] Các tác giả theo quan niệm này cho rằng: các tổng hợp thể địa lý tự nhiên chứa đựng trong nó các đặc tính phản ánh tính chất chung và tính chất riêng biệt của tổ hợp các thành phần cấu tạo nên chúng tạo nên cấu trúc đứng của CQ, đồng thời phản ảnh tính hệ thống của CQ tạo nên cấu trúc ngang - cấu trúc tầng bậc của các đơn vị CQ, cũng nhƣ cấu trúc thời gian gắn với lịch sử phát triển của các CQ đó trên một lãnh thổ nhất định. Nhờ vào việc nghiên cứu các đặc tính chung nào đó mà ngƣời ta có thể phát hiện các thể tổng hợp tự nhiên bằng con đƣờng phân loại CQ theo các cấp phân loại chính nhƣ hệ CQ - kiểu CQ - loại CQ, cũng nhƣ các đơn vị phụ nhƣ: phụ hệ CQ - phụ kiểu CQ - hạng CQ. Tiêu biểu cho quan điểm này là B.
Mặc dù, còn tồn tại các quan niệm khác nhau, nhƣng các nhà địa lý theo trƣờng phái Xô Viết đều thống nhất coi CQ là một thực thể tự nhiên, là các “tổng hợp thể tự nhiên” ở các cấp khác nhau. CQ đƣợc nghiên cứu không chỉ theo đặc điểm hình thái mà cả cấu trúc, chức năng (chức năng tự nhiên, chức năng kinh tế - xã hội) và động lực CQ. Nghiên cứu về cấu trúc, chức năng, động lực cảnh quan Quan niệm về cấu trúc CQ hiện nay chƣa thống nhất, có nhiều định nghĩa về cấu trúc CQ. Nhìn chung, các tác giả đề cập đến cấu trúc không gian (gồm cấu trúc đứng và cấu trúc ngang) và động lực của CQ (sự biến đổi của cấu trúc CQ theo thời gian.
Việc nghiên cứu cấu trúc CQ đƣợc rất nhiều tác giả quan tâm nhƣ: V. 1 Khi nghiên cứu về vai trò của các hợp phần trong cấu trúc CQ có nhiều quan niệm khác nhau. Một số tác giả cho rằng các hợp phần có vai trò nhƣ nhau trong thành tạo cảnh quan thể hiện ở mức độ bảo thủ hay tiến bộ của nó. Do các hợp phần của cảnh quan có vai trò nhƣ nhau trong quá trình thành tạo cảnh quan.
Một số tác giả khác lại cho rằng vai trò chức năng của mỗi hợp phần khác nhau trong thành tạo cảnh quan, tiêu biểu cho nhóm thứ hai này là N. Ông phân biệt các nhân tố thành tạo cảnh quan (các hợp phần) theo tính trội - kém hay mạnh - yếu.