phần mở đầu; Chương II là phần cơ sở lý luận; Chương III là phần thiết kế nghiên cứu; Chương IV phần phân 6 tích các yếu tố ảnh hưởng đến thu ngân sách bằng mô hình; Chương V là phần hàm ý chính sách và kết luận. Tóm tắt chƣơng I Chương này chủ yếu nói lên lý do chọn đề tài, tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu đối với khu vực các tỉnh thành Đông Nam bộ. Chương này cũng trình bày mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài cũng như những đóng góp mới sau khi thực đề tài nghiên cứu. Sau cùng trình bày phương pháp nghiên cứu và mô hình của đề tài.
7 CHƢƠNG II : CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG HỢP CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THU NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC. Khái quát về THU NSNN 1.1 Khái niệm thu ngân sách nhà nƣớc Như mọi loại nguồn quỹ tài chính khác, Ngân sách nhà nước luôn có hai phần là phần thu ngân sách nhà nước và chi ngân sách nhà nước, đây là quỹ tiền tệ để Nhà nước thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình. Như vậy thu ngân sách nhà nước là một trong hai thành phần của Ngân sách nhà nước, đây cũng là nguồn thu chính của tài chính công. Có nhiều khái niệm về Ngân sách nhà nước, chẳng hạn “ Ngân sách nhà nước là một đạo luật tài chính cơ bản do quốc hội quyết định , thông qua đó các khoản thu , chi tài chính nhà nước được thực hiện trong một niên khóa tài chính” “ ( Sử Đình Thành – Bùi Thị Mai Hoài, 2009, trang 213) hay theo như quy định tại điều 1 Luật ngân sách nhà nước năm 2002 thì : “Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”.
Riêng về khái niệm về thu ngân sách nhà nước một trong hai thành phần tạo nên ngân sách nhà nước thì căn cứ theo khoản 1 điều 2 của luật số 01/2002/QH11 ngày 16/12/2002 về Ngân sách nhà nước quy định : “ Thu ngân sách nhà nước bao gồm các khoản thu từ thuế, phí, lệ phí; các khoản thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật “ Ngoài ra theo định nghĩa được ghi trong Niên giám thống kê năm 2005- 2017 của Tổng cục thống kê thì thu ngân sách nhà nước được định nghĩa nhu sau : “ Thu ngân sách nhà nước gồm toàn bộ các nguồn thu vào ngân sách nhà nước từ các đơn vị sản xuất kinh doanh dịch vụ , từ dân cư trong nước và các nguồn thu ngoài nước , bao gồm các khoản : Thu từ thuế, phí , lệ phí , thu từ các hoạt động 8 kinh tế của nhà nước, các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân ; thu từ viện trợ nước ngoài , và các khoản thu khác.” Còn theo tác giả Sử Đình Thành – Vũ Thị Minh Hằng ( 2008) thì thu ngân sách nhà nước được định nghĩa như sau “ Thu ngân sách là quá trình tổ chức huy động các nguồn tài chính xã hội vào quỹ ngân sách để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của nhà nước. Nguồn tài chính xã hội được huy động vào ngân sách bằng những phương thức và hình thức khác nhau. Hình thức truyền thống được sử dụng từ trước cho đến nay để tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước là thuế. Ngoài ra nhà nước còn có nguồn thu từ hoạt động kinh tế nhà nước, các khoản thu huy động được nhằm bù đắp thiếu hụt ngân sách và một số khoản thu khác “.
Tóm lại, thu ngân sách nhà nước bao gồm toàn bộ các khoản tiền tập trung vào tay nhà nước để hình thành quỹ ngân sách nhà nước đáp ứng cho các nhu cầu chi tiêu xác định của nhà nước. Và “ Trong cơ cấu thu của ngân sách nhà nước công ở hầu hết các quốc gia trên thế giới , thuế luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất bởi nó được trích xuất chủ yếu từ những giá trị do nền kinh tế tạo ra và thể hiện rõ nét quyền lực nhà nước.2 Đặc điểm của thu ngân sách nhà nƣớc Thu ngân sách nhà nước là một bộ phận quan trọng của thu nhập công, thu ngân sách nhà nước có các đặc điểm chính như sau : - Đặc điểm thứ nhất : Phần lớn các thu ngân sách nhà nước được xây dựng trên nền tảng nghĩa vụ công dân, điển hình là thuế. Ngoài ra thu ngân sách nhà nước còn bao gồm các khoản thu dựa trên cơ sở trao đổi như lệ phí và phí thuộc ngân sách nhà nước; các khoản thu do thỏa thuận như : vay mượn. Các khoản thu do người dân tự nguyện đóng góp chiếm tỷ lệ không đáng kể.
9 - Đặc điểm thứ hai : Là các khoản thu không mang tính bồi hoàn trực tiếp. Các tổ chức và cá nhân nộp thuế cho nhà nước không có nghĩa là phải mua một hàng hóa hay dịch vụ nào đó của nhà nước. Tuy nhiên , Nhà nước sẽ dùng thuế nhằm tạo ra nhằm tạo ra những hàng hóa và dịch vụ công và tất cả hàng hóa và dịch vụ công sẽ được thụ hưởng bởi chính người dân trong nước. Như thế, các khoản thu ngân sách nhà nước được chuyển trở lại cho dân chúng một các gián tiếp và công cộng.
Đặc điểm thứ ba : Thu ngân sách nhà nước gắn chặt với việc thực hiện các nhiệm vụ của nhà nước. Nhà nước thu để tài trợ cho mọi hoạt động của nhà nước , tức thu để chi tiêu công chứ không phải thu để tìm kiếm lợi nhuận. Do đó , ngân sách nhà nước phát triển theo các nhiệm vụ của Nhà nước. Không thể đòi hỏi Nhà nước gia tăng hoạt động của mình trên cơ sở giảm mức động viên từ GDP.
Đặc điểm thứ tư : Việc thu ngân sách nhà được thực hiện theo đúng quy định của các văn bản quy phạm pháp luật về thu ngân sách nhà nước và thu ngân sách nhà nước cũng góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước .3 Phân loại các nguồn thu của ngân sách nhà nƣớc Thu ngân sách nhà nước bao gồm rất nhiều loại, ngoài các khoản thu chính từ thuế, phí, lệ phí còn có các khoản thu từ các hoạt động kinh tế của Nhà nước; các khoản đóng góp của các tổ chức và các cá nhân; các khoản viện trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Để cung cấp thông tin một cách có hệ thống, công khai, minh bạch, đảm bảo trách nhiệm, đáp ứng nhu cầu quản lý của các đối tượng thì việc phân loại các khoản thu theo những tiêu thức nhất định là việc hết sức quan trọng. Việc phân loại tốt giúp cho công tác quản lý và sử dụng các nguồn thu của ngân sách đúng theo quy định của pháp luật, thuận lợi cho công tác báo cáo của các cơ quan quản lý thu ngân sách. Có thể phân loại thu ngân sách Nhà nước theo các tiêu chí sau : 1.1 Căn cứ theo tính chất : Thu ngân sách nhà nước được chia thành hai nhóm là các khoản thu thuế và các khoản không phải thu thuế : 10 - Các khoản thu thuế bao gồm các sắc thuế mà nhà nước ban hành dưới hình thức luật , là những khoản thu mang tính chất bắt buộc , không bồi hoàn trực tiếp và xây dựng trên nghĩa vụ công dân.
Thuế chiếm tỷ phần đa số trong tổng thu ngân sách nhà nước ở hầu hết các quốc gia. - Các khoản thu không phải thuế : lệ phí và phí, quyên góp , vay mượn , cho thuê tài sản … Đây là những khoản thu mang tính đối giá và được xây dựng trên sự thỏa thuận giữa dân chúng và chính phủ. Mặc dù giữ tỷ phần nhỏ trong tổng thu ngân sách nhà nước song chúng không thể thiếu trong cơ cấu thu ngân sách nhà nước .2 Căn cứ theo phạm vi lãnh thổ Thu ngân sách nhà nước được chia thành : thu trong nước và thu ngoài nước. - Thu trong nước : thuế, lệ phí và phí, vay trong nước, cho thuê công sản, khai thác và bán tài nguyên thiên nhiên, thu khác … Thu trong nước là nguồn nội lực cơ bản giúp Chính phủ xây dựng một ngân sách nhà nước chủ động.
Mọi sự dựa dẫm vào bên ngoài đều để lại hậu quả lâu dài. Nền tài chính quốc gia chỉ lành mạnh và bền vững khi nguồn thu dựa chủ yếu vào nội lực của nền kinh tế quốc dân. - Thu nước ngoài : đầu tư nước ngoài , viện trợ nước ngoài , vay nợ nước ngoài. Đây là những nguồn lực có thể giúp đất nước mau chóng tích tụ và tập trung vốn đầu tư vào nhiều công trình then chốt.
Từ đấy, tạo ra những bước chuyển đáng kể, hoặc nói cách khác là tạo ra những cú hích cơ bản trong tiến trình phát triển .3 Căn cứ theo nội dung Thu ngân sách nhà nước bao gồm những khoản thu không mang nội dung kinh tế và những khoản thu mang nội dung kinh tế. - Khoản thu không mang nội dung kinh tế gồm có thuế, các khoản quyên góp, viện trợ nước ngoài và thu khác. Thuế là khoản thu chiếm tỷ trọng lớn nhất tại hầu hết các quốc gia trên thế giới, không phân biệt chế độ chính trị. Khoản thu này được xây dựng trên cơ sở trao đổi nghĩa vụ giữa công dân và nhà nước.
Quyên góp và viện trợ nước ngoài là những khoản thu hình thành trên cơ sở tự 11 nguyện. Chúng ngày càng nhỏ dần về mặt tỷ trọng. Các khoản thu viện trợ từ nước ngoài ngày càng mang tính hoàn lại và luôn kèm theo những điều kiện về chính trị, kinh tế, quân sự hoặc về văn hóa xã hội… Thu khác gồm các khoản thu từ phạt vi cảnh, thanh lý tài sản tịch thu , thu từ quà biếu tặng … - Khoản thu mang nội dung kinh tế gồm lệ phí, phí, vay nợ, cho thuê công sản, bán tài nguyên thiên nhiên… Lệ phí và phí là những khoản thu mang tính đối giá.