Chương 1 đã xác định đối tượng nghiên cứu là 30 công ty và không gian nghiên cứu từ năm 2014 đến 2023. Bài khóa luận sẽ cấu thành từ 5 chương với nhiệm vụ là giải quyết 3 mục tiêu nghiên cứu, và sẽ lần lượt trả lời cho 3 câu hỏi nghiên cứu xuyên suốt trong bài bằng các phương pháp nghiên cứu tương ứng. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU Chương 2 sẽ trình bày khái niệm cơ bản về TTCK, cổ phiếu, biến động giá cổ phiếu, phương pháp đo lường biến động giá, cũng như các lý thuyết nền có liên quan đến biến động giá cổ phiếu. Đồng thời khảo lược các nghiên cứu trong nước và ngoài nước trước đây, từ đó tìm ra khoảng trống nghiên cứu để phát triển điểm mới.
TỔNG QUAN VỀ BIẾN ĐỘNG GIÁ CỔ PHIẾU 2. Khái niệm về thị trường chứng khoán Garner (2014) mô tả “Chứng khoán là công cụ chứng minh quyền sở hữu của chủ sở hữu trong một công ty (ví dụ: cổ phiếu), MQH của trái chủ với một công ty hoặc chính phủ (ví dụ: trái phiếu) hoặc các quyền khác của chủ sở hữu (ví dụ: quyền chọn)”. Theo Bạch Đức Hiển (2008) và Bùi Kim Yến và Nguyễn Minh Kiều (2011) “Chứng khoán là tài sản, bao gồm: Cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; Chứng quyền, chứng quyền có bảo đảm, quyền mua cổ phần, chứng chỉ lưu ký; Chứng khoán phái sinh; Các loại chứng khoán khác do Chính phủ quy định”. Theo Bạch Đức Hiển (2008) nhận định “TTCK là địa điểm hoặc hình thức trao đổi thông tin để tập hợp lệnh mua, bán và giao dịch chứng khoán.
TTCK là một bộ phận quan trọng của thị trường vốn, hoạt động của nó nhằm huy động những nguồn vốn tiết kiệm nhỏ trong xã hội tập trung thành nguồn vốn lớn tài trợ dài hạn cho các công ty, các tổ chức kinh tế và nhà nước để phát triển sản xuất, tăng trưởng kinh tế hay cho các dự án đầu tư”. Tại đây, các CTCP phát hành chứng khoán để lấy vốn và NĐT sẽ là những người mua chứng khoán của họ để đầu tư vốn. Hiện nay, hầu hết các quốc gia đều chú trọng đến sự phát triển bền vững của TTCK. Bản thân TTCK là nền tảng của tiến bộ kinh tế, bởi vì TTCK có thể là nguồn vốn thay thế để các công ty phát triển và mở rộng quy mô (Wati, 2023).
Chứng khoán niêm yết trên 8 TTCK còn phản ánh giá trị của công ty phát hành chứng khoán đó trong mắt các NĐT, từ đó giúp công ty phát huy năng lực quản trị kinh doanh và tăng tính minh bạch. Ngoài ra, NĐT khi tham gia vào TTCK cần nắm vững kiến thức và thường xuyên theo dõi diễn biến TTCK vì thị trường này có tính chất cạnh tranh cao và giá chứng khoán cũng liên tục biến động (Nguyễn Hồng Nhung, 2023). Căn cứ vào quá trình luân chuyển nguồn vốn tiền tệ trong nền kinh tế, TTCK được cấu thành từ Thị trường sơ cấp (thị trường cấp một) và Thị trường thứ cấp (thị trường cấp hai). “Thị trường sơ cấp là thị trường mua bán, trao đổi chứng khoán mới phát hành lần đầu của các công ty cổ phần.
Vì thế, thị trường sơ cấp còn được biết đến với tên gọi là thị trường phát hành chứng khoán” (Bạch Đức Hiển, 2008). Chức năng cơ bản và cốt lõi của thị trường sơ cấp là tạo ra một “kênh” thu hút, huy động nguồn tiền nhàn rỗi của công chúng chuyển thành vốn đầu tư cho nền kinh tế” (Bạch Đức Hiển, 2008). Trong đó các tổ chức phát hành đóng vai trò là người đi huy động nguồn vốn, nhận tiền từ việc bán chứng khoán mới; ngược lại người mua chứng khoán đóng vai trò là các NĐT, cung cấp vốn cho nhà phát hành. “Thị trường thứ cấp là thị trường mua bán, trao đổi chứng khoán đã được phát hành trên thị trường sơ cấp” (Bạch Đức Hiển, 2008).
Vai trò của thị trường này là tạo ra khả năng chuyển đổi chứng khoán thành tiền mặt dễ dàng, thuận tiện (tính thanh khoản cao). Trên thị trường thứ cấp, các loại chứng khoán có thể được giao dịch nhiều lần với mức giá thay đổi tùy thuộc vào quy luật cung cầu. Tiền thu được từ việc bán chứng khoán không thuộc về nhà phát hành mà thuộc về NĐT bán chứng khoán, nhượng lại quyền sở hữu chứng khoán cho NĐT khác. Vì thế, hoạt động diễn ra trên thị trường thứ cấp không cung cấp thêm vốn đầu tư cho nền kinh tế (Bạch Đức Hiển, 2008).
Dựa trên phương thức hoạt động trên thị trường, TTCK được chia thành Thị trường giao dịch tập trung và Thị trường giao dịch phi tập trung (Over The Counter – OTC). Điểm khác biệt chính giữa hai loại thị trường này là ở cách thức và địa điểm giao dịch. “Thị trường giao dịch tập trung diễn ra tại một địa điểm cố định là Sở giao dịch chứng khoán, nơi NĐT phải tuân thủ các quy định của Luật Chứng 9 khoán. Hoạt động trên thị trường này theo hình thức đấu giá tập trung” (Bạch Đức Hiển, 2008).
Các công ty tham gia vào TTCK phải đáp ứng đủ điều kiện khắt khe của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước để được niêm yết. “Thị trường OTC không có địa điểm cố định và hoạt động dựa trên thỏa thuận giữa các bên tham gia” (Bạch Đức Hiển, 2008). Nơi đây chủ yếu tập trung các mã cổ phiếu đến từ các CTCP chưa niêm yết trên TTCK (Võ Văn Quang, 2008). Theo phương thức giao dịch, TTCK được cấu thành từ Thị trường chứng khoán cơ sở và Thị trường chứng khoán phái sinh.
Sự khác biệt giữa hai thị trường này nằm ở cách thức thực hiện giao dịch. “Thị trường chứng khoán cơ sở quy định việc thanh toán diễn ra ngay sau khi giao dịch hoàn tất, trong khi thị trường chứng khoán phái sinh cho phép thực hiện thanh toán trong tương lai” (Bạch Đức Hiển, 2008). Khái niệm về cổ phiếu Theo Bạch Đức Hiển (2008) và Bùi Kim Yến và Nguyễn Minh Kiều (2011) thì “Cổ phiếu hoặc chứng khoán vốn là chứng khoán xác nhận quyền sở hữu cổ phần thường do công ty cổ phần phát hành, cổ phiếu không có kỳ hạn và không được hoàn lại vốn”. “Cổ đông là người mua cổ phiếu và là một trong những người sở hữu công ty.
Cổ đông sau khi mua cổ phiếu sẽ được cấp giấy xác nhận quyền sở hữu đối với CTCP” (Bạch Đức Hiển, 2008). Khi công ty kinh doanh hiệu quả, cổ đông sẽ được hưởng cổ tức cao nhưng ngược lại nếu công ty kinh doanh thua lỗ thì cổ đông sẽ nhận được cổ tức thấp hoặc không. Khi công ty phá sản và giải thể, cổ đông thường sẽ là người cuối cùng hưởng giá trị còn lại của công ty từ tài sản thanh lý (Bạch Đức Hiển, 2008). Theo Bạch Đức Hiển (2008) thì cổ phiếu giao dịch trên TTCK được chia thành 2 loại là cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu ưu đãi.
Cổ phiếu phổ thông (Cổ phiếu thường): cổ đông khi sở hữu cổ phiếu phổ thông được phép hưởng quyền lợi thông thường trong công ty như quyền tham gia vào cuộc họp của Hội đồng Quản trị, bỏ phiếu biểu quyết vào các vấn đề thuộc 10 thẩm quyền của cổ đông, quyền chuyển nhượng sở hữu cổ phần, v. Cổ phiếu ưu đãi: cổ đông khi sở hữu cổ phiếu ưu đãi được hưởng một số quyền lợi ưu tiên hơn so với cổ đông thường, như quyền nhận cổ tức trước các cổ đông thường, quyền nhận giá trị tài sản khi công ty giải thể trước cổ đông thường, v. Theo Bạch Đức Hiển (2008); Bùi Kim Yến và Nguyễn Minh Kiều (2011), giá cổ phiếu được phân loại như sau: Mệnh giá: là “giá trị được công ty ấn định và ghi trên giấy chứng nhận cổ phiếu, mệnh giá của mỗi cổ phiếu chỉ có giá trị danh nghĩa và ít có giá trị kinh tế” Bạch Đức Hiển (2008). Tại Việt Nam, theo Điều 13, Khoản 2 Luật Chứng khoán 2019 quy định “Mệnh giá của một cổ phiếu, chứng chỉ quỹ chào bán ra công chúng là 10.
Giá trị nội tại (Giá trị lý thuyết): là “giá trị bên trong của một cổ phiếu ở thời điểm hiện tại, và thường được so sánh với thị giá hiện tại của cổ phiếu để đánh giá xem cổ phiếu có đang được định giá hợp lý hay không” (Bạch Đức Hiển, 2008). Giá trị được ước tính dựa trên các yếu tố như doanh thu; lợi nhuận; tài sản; cấu trúc vốn; cổ tức; lãi suất thị trường; triển vọng tăng trưởng và các yếu tố kinh; từ đó phản ánh được sức hấp dẫn của cổ phiếu trên thị trường (Bạch Đức Hiển, 2008; Bùi Kim Yến và Nguyễn Minh Kiều, 2011). Thị giá của cổ phiếu được xác định bởi giá thống nhất mà người bán sẵn sàng bán và giá cao nhất mà người mua sẵn sàng mua. Thị giá có hai loại là giá mở cửa và giá đóng cửa: giá mở cửa là giá đóng cửa của phiên giao dịch ngày liền 11 trước và giá đóng cửa là giá trị thực của cổ phiếu tại lần khớp lệnh cuối cùng trong ngày giao dịch (Bạch Đức Hiển, 2008; Bùi Kim Yến và Nguyễn Minh Kiều, 2011).
Khái niệm về biến động giá cổ phiếu Wati (2023) mô tả rằng “Biến động giá cổ phiếu là sự lên hay xuống của giá cổ phiếu, đây là hiện tượng tự nhiên và tất yếu bởi sự thay đổi trong cung cầu trên TTCK cũng như diễn biến vĩ mô của một quốc gia”. Theo Pelcher (2019) thì “Biến động giá cổ phiếu là sự chuyển động giá nhanh hay chậm, cao hay thấp theo thời gian”. Sự chuyển động là không thể đoán trước và phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Còn Siawan và Lukman (2023) cho rằng “Giá cổ phiếu có mức độ biến động cao khi nó di chuyển hoặc thay đổi nhanh (tăng hoặc giảm) trong một thời gian ngắn, tạo ra sự chênh lệch lớn giữa giá cao nhất và giá thấp nhất, cho thấy rủi ro cao hơn; và sự biến động giá chậm hoặc tương đối ổn định trong thời gian dài hơn, cho thấy rủi ro thấp hơn”.
Do đó, một cổ phiếu tốt là cổ phiếu có giá ổn định để giảm thiểu biến động, nếu không NĐT có thể gặp bất lợi vì họ không đạt được lợi nhuận kỳ vọng vào thời điểm mà họ mong đợi. Nhưng đối với những NĐT khác, chứng khoán có độ biến động cao có thể có lợi vì cơ hội thu về lợi nhuận vốn cao hơn. Và tất nhiên với sự ưa thích này, các NĐT cũng phải đối mặt với rủi ro cao hơn vì giá trị của chứng khoán sẽ không chắc chắn. Hay còn được biết đến với thuật ngữ “High risk, High return – Rủi ro cao, Lợi nhuận cao” (Handayani và ctg, 2018).