chương 1 Trong chương này tác giả đã xác định được tính cấp thiết của việc chọn đề tài phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định chọn vào làm nữ hộ sinh tại bệnh viện Phụ sản thành phố Cần Thơ. Xác định được 03 mục tiêu chính của nghiên cứu là: Xác định các nhân tố tác động đến quyết định của nữ hộ sinh, ước lượng mức độ tác động của các nhân tố và đưa ra các hàm ý quản trị cho bệnh viện. Xác định rõ đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu của đề tài cũng như ý nghĩa mà đề tài đem lại cho bệnh viện. 5 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.2 Khái niệm việc làm 2.
Khái niệm Theo điều 13 chương 3 Bộ luật lao động nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (1994) đã ban hành: "Mọi hoạt động lao động tạo ra thu nhập, không bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm". Phân loại việc làm - Việc làm đầy đủ: Được căn cứ dựa trên hai khía cạnh chủ yếu đó là mức độ sử dụng thời gian lao động, năng suất lao động và thu nhập. Việc làm đầy đủ đòi hỏi người lao động phải sử dụng đầy đủ thời gian lao động theo luật định (Việt Nam hiện nay qui định 8 giờ một ngày). Mặt khác, việc làm đó phải mang lại thu nhập không thấp hơn mức tiền lương tối thiểu cho người lao động.
- Thiếu việc làm: Với khái niệm việc làm đầy đủ như trên thì thiếu việc làm là những việc làm không tạo điều kiện cho người lao động tiến hành nó sử dụng hết quỹ thời gian lao động, mang lại thu nhập cho họ thấp dưới mức lương tối thiểu và người tiến hành việc làm không đầy đủ là người thiếu việc làm. - Việc làm chính: Là công việc mà người lao động thực hiện dành nhiều thời gian nhất và yêu cầu của công việc là cần trình độ chuyên môn kỹ thuật. - Việc làm phụ: Là công việc mà người lao động thực hiện dành nhiều thời gian nhất sau công việc chính. Lý thuyết hành động hợp lý Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) được Ajzen và Fishbein xây dựng từ năm 1975 và được hiệu chỉnh, mở rộng theo thời gian.
Mô hình TRA cho thấy hành vi được quyết định bởi ý định thực hiện hành vi đó. Hai yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định là thái độ cá nhân và chuẩn chủ quan. Mô hình TRA cho thấy xu hướng là yếu tố dự đoán tốt nhất về hành vi. Để quan tâm hơn về các yếu tố góp phần đến xu hướng lựa chọn thì xem xét hai yếu tố là thái độ và chuẩn chủ quan của con người.
Trong mô hình TRA, thái độ được đo lường bằng nhận thức về các thuộc tính của sự việc. Con người sẽ chú ý đến những thuộc tính mang lại các ích lợi cần thiết 6 và có mức độ quan trọng khác nhau. Nếu biết trọng số của các thuộc tính đó thì có thể dự đoán gần kết quả lựa chọn của con người. Yếu tố chuẩn chủ quan có thể được đo lường thông qua những người có liên quan đến đối tượng khảo sát (như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp,…); những người này thích hay không thích họ mua.
Mức độ tác động của yếu tố chuẩn chủ quan đến xu hướng mua của người tiêu dùng phụ thuộc: (1) mức độ ủng hộ/phản đối với việc chọn nơi làm việc và (2) động cơ của ứng viên dự tuyển làm theo mong muốn của những người có ảnh hưởng. Mức độ ảnh hưởng của những người có liên quan đến xu hướng hành vi của người ứng viên dự tuyển và động cơ thúc đẩy ứng viên dự tuyển làm theo những người có liên quan là hai yếu tố cơ bản để đánh giá chuẩn chủ quan. Mức độ thân thiết của những người có liên quan càng mạnh đối với ứng viên dự tuyển thì sự ảnh hưởng càng lớn tới quyết định chọn mua của họ. Niềm tin của các ứng viên dự tuyển vào những người có liên quan càng lớn thì xu hướng chọn làm việc của họ cũng bị ảnh hưởng càng lớn.
Ý định chọn nơi làm việc của ứng viên dự tuyển sẽ bị tác động bởi những người này với những mức độ ảnh hưởng mạnh yếu khác nhau. Trong mô hình thuyết hành động hợp lý thì niềm tin của mỗi cá nhân về nơi chọn vào làm việc hay thương hiệu sẽ ảnh hưởng đến thái độ hướng tới hành vi, và thái độ hướng tới hành vi sẽ ảnh hưởng đến xu hướng chọn chứ không trực tiếp ảnh hưởng đến hành vi chọn. Do đó thái độ sẽ giải thích được lý do dẫn đến xu hướng chọn nơi làm việc, còn xu hướng là yếu tố tốt nhất để giải thích xu hướng chọn nơi làm việc. Niềm tin vào nơi đăng ký dự tuyển Thái độ Đo lường niềm tin đối với nơi dự tuyển Xu hướng Hành vi hành vi thực sự Những người ảnh hưởng sẽ nghĩ rằng tôi nên hay không nên chọn Chuẩn chủ quan Đo lường niềm tin đối với nơi dự tuyển (Nguồn : Fishbein và Ajzen, 1975) Hình 2.1 : Thuyết hành động hợp lý (TRA) 7 2.
Thuyết hành vi dự định (TPB) Thuyết hành vi dự định (Theory of planned behavior - TPB) (Ajzen, 1991), được phát triển từ lý thuyết hành động hợp lý (TRA; Ajzen & Fishbein, 1975), giả định rằng một hành vi có thể được dự báo hoặc giải thích bởi các xu hướng hành vi để thực hiện hành vi đó. Các xu hướng hành vi được giả sử bao gồm các nhân tố động cơ mà ảnh hưởng đến hành vi, và được định nghĩa như là mức độ nổ lực mà mọi người cố gắng để thực hiện hành vi đó (Ajzen, 1991). Xu hướng hành vi lại là một hàm của ba nhân tố. Thứ nhất, các thái độ được khái niệm như là đánh giá tích cực hay tiêu cực về hành vi thực hiện.
Nhân tố thứ hai là ảnh hưởng xã hội mà đề cập đến sức ép xã hội được cảm nhận để thực hiện hay không thực hiện hành vi đó. Cuối cùng, thuyết hành vi dự định TPB (Theory of Planned Behaviour) được Ajzen xây dựng bằng cách bổ sung thêm yếu tố kiểm soát hành vi cảm nhận vào mô hình TRA. Thành phần kiểm soát hành vi cảm nhận phản ánh việc dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi; điều này phụ thuộc vào sự sẵn có của các nguồn lực và các cơ hội để thực hiện hành vi. Ajzen đề nghị rằng nhân tố kiểm soát hành vi tác động trực tiếp đến xu hướng thực hiện hành vi, và nếu đương sự chính xác trong cảm nhận về mức độ kiểm soát của mình, thì kiểm soát hành vi còn dự báo cả hành vi.
Mô hình TPB như sau (xem hình 2.2): Thái độ Xu hướng Hành vi Chuẩn chủ quan hành vi thực sự Nhận thức kiểm soát hành vi (Nguồn: Ajzen, 1991) Hình 2. Thuyết hành vi dự định (TPB) 2. Hành vi dự định chọn nơi làm việc Hành vi (Behavior): Hành vi là sự phản ứng hiển nhiên có thể nhận thấy, được thực hiện trong tình huống đã quy định cùng với mục tiêu đã quy định trước đó. Những quan sát hành vi đơn lẻ có thể được tổng hợp nhiều lần trong các phạm vi để tạo ra một phép đo tiêu biểu về hành vi mang tính bao quát.
Theo thuyết hành vi dự định, hành vi là một hàm bao gồm các ý định thích hợp và nhận thức kiểm soát hành vi. Về mặt khái niệm, nhận thức về kiểm soát hành vi được dùng để làm 8 giảm bớt ảnh hưởng của ý định lên hành vi, do đó, một ý định được tán thành chỉ dẫn đến hành vi chỉ khi mà nhận thức về kiểm soát hành vi đủ mạnh. Thực tế, các ý định và nhận thức về kiểm soát hành vi đều được cho là những yếu tố chính dẫn đến hành vi khi mà chúng không có sự tác động qua lại. Dự định (Intention): Dự định biểu thị sự sẵn sàng của mỗi người khi thực hiện một hành vi đã quy định, và nó được xem là tiền đề trực tiếp dẫn đến hành vi.
Dự định dựa trên các ước lượng bao gồm thái độ dẫn đến hành vi, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi và các trọng số được gán cho mỗi ước lượng này tùy vào tầm quan trọng của chúng. Việc tuyển dụng nhân sự và vấn đề chọn tổ chức làm việc đã nhận được sự quan tâm của nhiều nghiên cứu trong những thập niên trở lại đây (theo tổng hợp của Barber, 1998). Cùng với sự phát triển của các nghiên cứu, câu hỏi về các yếu tố ảnh hưởng đến sự hấp dẫn của một tổ chức ngày càng đặc biệt được quan tâm. Theo thuyết kỳ vọng của Greogory (2010) đưa ra sự giải thích như sau: Quyết định và lựa chọn của người tìm việc được đưa ra dựa trên cơ sở làm thế nào để sử dụng tốt nhất những nỗ lực của bản thân để không chỉ đáp ứng những nhu cầu trước mắt mà còn cả những mong đợi của họ về những ảnh hưởng đến nhu cầu tương lai và hành vi của họ.
Nếu người tìm việc tin rằng một tổ chức sẽ làm tăng khả năng của họ đạt được kết quả có giá trị, họ sẽ sẵn sàng để theo đuổi việc làm với tổ chức đó. Vì vậy, người tìm việc hình thành một mối quan tâm cho các đặc tính của tổ chức mà họ tin rằng nỗ lực của họ sẽ đạt được các kết quả có giá trị. Khái niệm về ý định theo đuổi công việc theo Rynes (1991) bao gồm những mong muốn của một người nộp đơn như tìm hiểu trang web của công ty hoặc tham gia phỏng vấn, hoặc sẵn sàng đáp ứng các thủ tục nộp đơn mà không có sự cam kết về sự lựa chọn công việc. Chapm et al.
(2005), ý định của một ứng viên chấp nhận lời mời làm việc nếu tổ chức đưa ra lời đề nghị về một vị trí công việc sẽ góp phần đo lường khái niệm dự định chấp nhận công việc. Highhouse (2003) khi nghiên cứu về sự hấp dẫn của tổ chức cho biết sự hấp dẫn, uy tín của tổ chức có tác động lên quyết định theo đuổi công việc trong tổ chức. Ngoài ra, theo Collin (2006), sự hiểu biết về tổ chức, danh tiếng và hình ảnh tổ chức có ảnh hưởng đáng kể đến dự định và hành vi xin việc của người tìm việc.