Chương 1 TỎNG QUAN 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 1. Tổng quan tài liệu nước ngoài Xem xét sự tác động của việc tự do hóa tài chính đến đầu tư của các doanh nghiệp ở Mexico, Gelos và Werner (2002) dựa vào số lượng lao động đã phân loại 1.046 doanh nghiệp ở Mexico thành các loại hình doanh nghiệp rất nhỏ, nhỏ, vừa và lớn; nghiên cứu cho thấy vốn tự có giảm đi khi quy mô của doanh nghiệp tăng lên; đồng nghĩa với việc đầu tư của các doanh nghiệp lớn ít bị tác động bởi sự không hoàn thiện của hệ thống tài chính hơn là các doanh nghiệp nhỏ. Shiundu (2009) cho rằng quyết định đầu tư thường được hỗ trợ bởi các công cụ quyết định và các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định đầu tư cá nhân đó là: Tình trạng của công ty trong ngành, thu nhập dự kiến của công ty, lợi nhuận và điều kiện công bố cổ phiếu của công ty trong quá khứ, giá mỗi cổ phiếu, cảm nhận về nền kinh tế và phân chia kỳ vọng của các nhà đầu tư.
Nghiên cứu về sự liên quan của các yếu tố nhân khẩu trong quyết định đầu tư, Geetha và Ramesh (2012) đã cho thấy các yếu tố nhân khẩu học, như: Giới tính, tuổi tác, trình độ học vấn tác động đáng kế đến một số quyết định đầu tư tại quận Nagapattinam, Nam An Độ. Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư vào thị trường vốn: Nghiên cứu về các nhà đầu tư cá nhân tại Nigeria, Tomola Marshal Obamuyi (2013) chỉ ra rằng 05 yếu tố ảnh hưởng nhiều nhất đến quyết định đầu tư của các nhà đầu tu ở Nigeria là: Hiệu suất cỗ phiếu của công ty trong quá khứ, Chia cô phiéu/tang vốn/thưởng dự kiến, Chính sách cổ tức, Thu nhập công ty dự kiến và Lợi tức nhanh chóng. Trong nghiên cứu về các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của công ty tại Ba Lan cho thấy có hai động lực quyết định đầu tư của các công ty Ba Lan đó là các yếu tố kinh tế vĩ mô và các yếu tổ liên quan đến pháp luật (Bialowolski và ctv, 2014); các công ty phải đối mặt với mức giảm đầu tư cao hơn thì ảnh hưởng của các yếu tô kinh tế vĩ mô và các yếu tố liên quan đến pháp luật cũng cao hơn. Theo Kolegowicz và Krzeminski (2019), một trong nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tiềm lực và sự phát triển kinh tế của doanh nghiệp đó là hoạt động đầu tư.
Chi phí đầu tư để duy trì hoặc tăng cường tiềm năng kinh tế không chỉ quyết định đến sự phát triển của doanh nghiệp mà còn cả hoạt động hiện tại của doanh nghiệp. Trong nghiên cứu về tình hình tải chính và mức độ tác động của tình hình tài chính đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp cho thấy sự gia tăng tài chính ròng thu được và sự gia tăng tính thanh khoản tài chính hiện tại quyết định mạnh mẽ số tiền đầu tư của doanh nghiệp. Darlington Chizema và ctv (2021) đã xác nhận các yếu tố thúc đây quan trọng nhất đối với quyết định đầu tư trực tiếp nước ngoài của các doanh nghiệp bán lẻ Nam Phi đầu tư vào Châu Phi là tìm kiếm thị trường, hiệu quả kinh doanh va phát huy lợi thé chủ sở hữu, ngoài ra còn có các yếu tố quy mô thị trường, sự ồn định về chính trị, triển vọng tăng trưởng và lợi nhuận, sự cởi mở về thương mại về dau tư. Tuy nhiên, nghiên cứu của Darlington Chizema và ctv (2021) cũng chỉ ra rằng việc thiếu sở sở hạ tầng, bat 6n chính trị và thủ tục hành chính quan liêu cũng là rủi ro đối với quyết định đầu tư của doanh nghiệp.
Ahmed Amer Abul Kareem va ctv (2023) trong nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư tài chính của các công ty đầu tư đã chỉ ra các yếu tố bên ngoài, như: Thông tin, công nghệ có ảnh hưởng đến quyết định đầu tư tài chính của các công ty đầu tư. Tổng quan nghiên cứu trong nước Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đồng bằng sông Cửu Long, nghiên cứu của Lê Khương Ninh và ctv (2007) cho thấy các biến có ý nghĩa đối với quyết định đầu tư của các doanh nghiệp, như: Tăng trưởng doanh thu, Vốn tự có, Trình độ văn hóa và Chuyên môn, Vốn vay, Do lường quy mô doanh nghiệp, Quan hệ giữa dich vụ và Thương mai. Lê Bảo Lâm và Lê Văn Hưởng (2012) sử dụng dữ liệu thu thập từ cuộc điều tra 904 doanh nghiệp của Cục Thống kê Tiền Giang năm 2010 để nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp tại tỉnh Tiền Giang. Nghiên cứu cho thấy có 07 yếu tố có ý nghĩa và tác động đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp.
Tỷ lệ thuận, có mối quan hệ tích cực đến quyết định đầu tư doanh nghiệp, gồm: (1) Lao động, (2) Tổng tài sản của doanh nghiệp, (3) Lợi nhuận, (4) Vốn chủ sở hữu; (5) Loại hình doanh nghiệp tư nhân có ý nghĩa đối với quyết định đầu tư cao hơn các loại hình doanh nghiệp khác. Tỷ lệ nghịch với quyết định đầu tư doanh nghiệp, gồm: (1) Téng doanh thu, (2) ROA, trong đó, ROA là yếu tô rất quan trọng trong quyết định đầu tư doanh nghiệp. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thủy (2018) cho rằng những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ du lịch — Nghiên cứu trường hợp tỉnh Phú Thọ là Sáng kiến lập kế hoạch, Khung chính sách, Chính sách và hoạt động thực hiện, Cán bộ địa phương, Đầu tư công vào đầu tư riêng, Nhu cầu du lịch địa phương. Lê Thị Lan và Nguyễn Đức Việt (2018) nghiên cứu các yếu té ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp vào các khu kinh tế Việt Nam cho thấy các yếu tố bên trong, như: Quy mô doanh nghiệp, Lĩnh vực doanh nghiệp, Hình thức sở hữu, Hoạt động xuất khâu và các yếu tố bên ngoài, như: Chi phi đầu vao cạnh tranh; Ưu đãi, Thể chế địa phương; Vị trí địa lý có ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp vào các khu kinh tế.
Nguyễn Thị Yến Nhung (2019) tìm hiểu ảnh hưởng của độ bat ôn trong các yếu tô vĩ mô của nền kinh tế đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp sản xuất tại Việt Nam cho thấy doanh nghiệp có thể giảm chỉ tiêu cho đầu tư khi yếu tố kinh tế vĩ mô hay yếu tố không chắc chắn (rủi ro) đặc thù của doanh nghiệp tăng lên. Trong đó, yếu tô kinh tế vĩ mô có tác động mạnh hơn yếu tố không chắc chắn (rủi ro) đặc thù khi tác động đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp, nghĩa là quyết định đầu tư có độ nhạy cảm cao hơn đối với yếu tố kinh tế vĩ mô. Thái Văn Đại và Trần Minh Trang (2019) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa ở Việt Nam cho thấy vốn vay được từ các ngân hàng và số lượng lao động có tác động cùng chiều đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa (DNSNNVV). Ngược lại, giá trị tài sản có định và nhân tố cạnh tranh của DNSNNVV ảnh hưởng nghịch chiều với đầu tư.
Nghiên cứu các yếu tố quyết định đầu tư của các doanh nghiệp: Bằng chứng từ các tập đoàn kinh tế Việt Nam của Phan Thùy Dương và Nguyễn Thị Hà (2020) cho thấy dòng tiền và tốc độ tăng trưởng doanh thu có tác động như nhau đến quyết định au tu của các tập đoàn kinh tế Việt Nam, các yếu tố về vốn cố định, đòn bay, rủi ro kinh doanh có tác động yếu và không đáng kẻ. Sử dụng phương pháp định lượng, phân tích nhân tố (EFA) và mô hình hồi quy đa biến để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu té ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Trang (2021) chỉ ra rằng các yêu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp ngoài nha nước là: (i) Thị trường; (ii) Chính sách ưu đãi; (iii) Chất lượng của các thể chế quản tri địa phương; (iv) Chi phí; (v) Cơ sở hạ tầng: (vi) Nguồn nhân lực; (vii) Giao tiếp. Trong đó tất cả các yếu tố đều có ảnh hưởng tích cực đến quyết định đầu tư, chỉ có yếu tổ chi phi là có ảnh hưởng tiêu cực đến quyết định đầu tư. Theo Trần Tôn Đoản (2022), các doanh nghiệp có năm tuổi càng lâu thì càng có xu hướng dau tư vào khu công nghiệp dé hưởng các ưu đãi và các doanh nghiệp nảy là các doanh nghiệp có loại hình sản xuất quy mô lớn, không thích hợp đặt công ty ở những nơi đông dân cư.
Các chủ doanh nghiệp càng trẻ và có trình độ học vấn càng cao thì càng có xu hướng đầu tư vào khu công nghiệp do nhận thức từ rất sớm về các lợi ích của khu công nghiệp. Nhìn chung, các đề tài nghiên cứu quyết định đầu tư của doanh nghiệp trên nhiều lĩnh vue, khu vực địa lý khác nhau, nhưng tựu chung phát hiện và chỉ ra có 02 nhóm nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp là nhóm nhân tố bên trong (nội tại) doanh nghiệp và nhóm nhân tố từ bên ngoài tác động: bên cạnh đó, cũng chưa có nghiên cứu nao thực hiện trên địa ban tinh Gia Lai về các nhân tô ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp tại tinh. Tong quan về địa bàn nghiên cứu 1. Vị trí địa lý Gia Lai là tỉnh cao nguyên, biên giới nằm ở phía Bắc Tây Nguyên, có diện tích tự nhiên hon 15.
Phía Bắc giáp tinh Kon Tum; phía Đông giáp tinh Quang Ngãi, Bình Định và Phú Yên; phía Nam giáp tỉnh Đắk Lắk; phía Tây giáp tỉnh Rattanakiri của Campuchia với 80,48 km đường biên giới với Cửa khâu Quốc tế Lệ Thanh - Việt Nam kết nối Cửa khâu Oza Dao - Campuchia. Vị trí của tỉnh là giao điểm của nhiều tuyến giao thông đường bộ quốc gia, như: Quốc lộ 14 theo hướng Bắc - Nam nối với tỉnh Quảng Nam, thành phố Đà Nẵng, các tỉnh Tây Nguyên, Vùng Đông Nam Bộ: Quốc lộ 19 theo hướng Tây - Bắc nối tinh Gia Lai với tinh Bình Định; Quốc lộ 25 theo hướng Đông - Nam nối tinh Gia Lai với tỉnh Phú Yên. tkhong cá HE Sao HC OD Tang lon nen no Tink Quang M: khoảng cách 297 km (6 oe) 3Omnins) TP.