phần mở đầu và kết luận, nội dung của đề tài luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về Nghiên cứu đánh giá hiện trạng, biến động sử dụng đất phục vụ định hƣớng qui hoạch sử dụng đất cấp quận. Chƣơng 2: Phân tích hiện trạng, đánh giá biến động sử dụng đất quận Đồ Sơn giai đoạn 2005 - 2010 Chƣơng 3: Đề xuất định hƣớng qui hoạch sử dụng đất quận Đồ Sơn thành phố Hải Phòng đến năm 2020. - 10 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG, BIẾN ĐỘNG SỬ DỤNG ĐẤT PHỤC VỤ ĐỊNH HƢỚNG QUI HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT CẤP QUẬN 1. Vấn đề nghiªn cøu hiÖn tr¹ng sử dụng đất vµ biÕn ®éng sö dông ®Êt phôc vô ®Þnh h-íng quy ho¹ch sö dông ®Êt.
Khái niệm về đô thị và đất đô thị: a, Khái niệm về đô thị: Có nhiều cách tiếp cận nghiên cứu đô thị, mỗi cách tiếp cận lại đƣa ra định nghĩa khác nhau về đô thị, dƣới góc nhìn của những nhà khoa học, nhà nghiên cứu, đô thị đƣợc hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Đô thị đƣợc định nghĩa là một khu dân cư tập trung thoả mãn 2 điều kiện: - Về cấp quản lý: Đô thị là thành phố, thị xã, thị trấn đƣợc cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định thành lập. - Về trình độ phát triển: Đô thị phải đạt những tiêu chuẩn sau: Thứ nhất, đô thị có chức năng là trung tâm tổng hợp hoặc trung tâm chuyên ngành, cấp quốc gia, cấp vùng liên tỉnh, cấp tỉnh, cấp huyện hoặc là một trung tâm của vùng trong tỉnh; có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nƣớc hoặc một vùng lãnh thổ nhất định. Thứ hai, đối với khu vực nội thành phố, nội thị xã, thị trấn yêu cầu: + Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp đƣợc tính trong phạm vi ranh giới nội thành, nội thị, khu vực xây dựng tập trung phải đạt tối thiểu 65% so với tổng số lao động.
+ Hệ thống công trình hạ tầng đô thị đƣợc xây dựng đồng bộ (hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội) đã đƣợc đầu tƣ xây dựng đạt 70% yêu cầu của đồ án quy hoạch xây dựng theo từng giai đoạn; đạt quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật và các quy định khác có liên quan. + Quy mô dân số toàn đô thị tối thiểu phải đạt 4.000 ngƣời trở lên. + Mật độ dân số phù hợp với quy mô, tính chất và đặc điểm của từng loại đô thị và đƣợc tính trong phạm vi nội thành, nội thị và khu phố xây dựng tập trung của thị trấn. - 11 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Căn cứ vào các nội dung yêu cầu trên có thể định nghĩa một cách khái quát về đô thị nhƣ sau: “Đô thị là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp (trên 65% - xét ở khu vực nội thị), là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ (có thể là cả nước, hoặc một tỉnh, một huyện), có cơ sở hạ tầng thích hợp và dân số nội thị tối thiểu là 4000 người (đối với miền núi tối thiểu là 2800 người).
Đô thị gồm các loại: thành phố, thị xã và thị trấn. Đô thị bao gồm các khu chức năng đô thị”.[4]: b, Khái niệm đất đô thị: Đất đô thị đƣợc định nghĩa là đất nội thành, nội thị xã, thị trấn sử dụng để xây dựng nhà ở, trụ sở cơ quan, tổ chức, cơ sở tổ chức kinh doanh, cơ sở hạ tầng phục vụ lợi ích công cộng, quốc phòng, an ninh và vào các mục đích khác nhằm phát triển kinh tế xã hội cho một vùng lãnh thổ. Ngoài ra, đất ngoại thành, ngoại thị nếu đã có quy hoạch đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền phê duyệt để phát triển đô thị cũng đƣợc quản lý nhƣ đất đô thị. Việc sử dụng đất đô thị có hiệu quả nhiều hay ít phụ thuộc vào công tác quy hoạch xây dựng.
Hiện trạng sử dụng đất đô thị đƣợc đánh giá bằng các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật nhƣ: tỷ số giữa diện tích sàn nhà trên diện tích đất, giữa diện tích xây dựng trên diện tích đất, có chỉ tiêu diện tích đất cho các loại công trình. Kết quả đánh giá hiện trạng sử dụng đất đô thị chỉ ra những loại đất đang phát huy hiệu quả, những loại đất kém hiệu quả và cần chuyển đổi mục đích sử dụng, đất hoang hóa hoặc sử dụng sai mục đích cần đƣợc thu hồi để quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch đô thị bố trí vào những mục đích sử dụng hợp lý nhất. Phân vùng chức năng đất đô thị: Căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu, đất đô thị bao gồm: Đất sử dụng vào mục đích xây dựng các công trình công cộng; Đất ở; Đất khu công nghiệp và kho tàng; Đất cây xanh; Đất xây dựng mạng lƣới giao thông và kỹ thuật hạ tầng; Đất vùng ngoại ô. Vấn đề sử dụng đất hiện nay ở nước ta: Việt Nam có diện tích tự nhiên là hơn 33 triệu ha, đứng thứ 59/200 quốc gia, dân số khoảng 86 triệu ngƣời, đứng thứ 13/200 quốc gia, vì vậy bình quân diện tích đất trên đầu ngƣời vào loại thấp 3.840 m2/ngƣời (0,3 - 0,4 ha/ngƣời), đứng thứ - 12 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 135/200 quốc gia trên thế giới - bằng mức 1/6 bình quân thế giới, đứng thứ 9 ở khu vực Đông Nam Á (chỉ trên Singapore).
Trƣớc đây, khi dân số thế giới còn ít hơn ngày nay rất nhiều, đa số các cộng đồng xã hội đã sinh sống một cách hài hoà với môi trƣờng tự nhiên, trong đó có tài nguyên đất đai là nguồn cung cấp dồi dào cho nhu cầu tồn tại của con ngƣời. Một vài thế kỷ gần đây, dân số thế giới tăng nhanh đã thúc đẩy nhu cầu về lƣơng thực, thực phẩm. Song trong đó, nhịp độ phát triển nhanh chóng của các cuộc cách mạng về kinh tế và kỹ thuật,. là nguyên nhân dẫn đến việc tàn phá môi trƣờng tự nhiên và khai thác triệt để các nguồn tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên đất đai.
Hơn nhiều thập kỷ qua, không ngoài quy luật, đó tình trạng sử dụng đất ở nƣớc ta cũng bị ảnh hƣởng nặng nề bởi sự gia tăng dân số - nhu cầu lƣơng thực - và các yêu cầu thiết yếu khác. Nhiều khu vực tài nguyên đất đai bị suy thoái một cách nghiêm trọng bởi việc phá rừng và khai thác bừa bãi các tài nguyên rừng và tài nguyên khoáng sản, hoặc tình trạng đô thị hoá nhanh chóng gia tăng. Trong quá trình công nghiệp hóa, một phần đất có khả năng cho sản lƣợng lƣơng thực cao sẽ bị chuyển sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp. Mặt khác, sản xuất trong nông nghiệp không mang lại lợi nhuận cao nhƣ sản xuất, kinh doanh trong công nghiệp và dịch vụ, phần lớn lao động sẽ đƣợc chuyển từ khu vực nông nghiệp sang khu vực phi nông nghiệp; dân cƣ trong khu vực đô thị sẽ tăng nhanh và có xu hƣớng cao hơn trong khu vực nông thôn Đánh giá tình hình sử dụng đất giai đoạn 2000 - 2010 trên toàn quốc, cho thấy bên cạnh những mặt tích cực đã đạt đƣợc thì việc sử dụng đất vẫn có những biểu hiện thiếu bền vững nhƣ sau: - Đối với khu vực đất nông nghiệp: Trong hoàn cảnh nƣớc ta hiện nay, lao động nông nghiệp vẫn chiếm tới 80%, tình trạng ruộng đất manh mún, thửa đất nhỏ, mỗi hộ có quá nhiều thửa ở những vị trí xa nhau.
Mặc dù đã tập trung thực hiện việc đổi điền dồn thửa thành công ở nhiều nơi nhƣng nhìn chung thửa đất nông nghiệp vẫn còn quá nhỏ, toàn quốc còn tới 75 triệu thửa đất nông nghiệp, bình quân mỗi hộ có từ 7 - 25 thửa đất nhỏ ở nhiều xứ đồng khác nhau, do đó canh tác manh mún, chƣa tạo thuận lợi để thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và - 13 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nông thôn. Đây là một giải pháp để thực hiện tập trung ruộng đất theo không gian dựa trên diện tích đất mà mỗi hộ gia đình cá nhân đang sử dụng. Chƣa có sự đầu tƣ để sử dụng đạt hiệu quả cao đối với 1.529 ha đất nƣơng rẫy, việc sử dụng đất chƣa trở thành động lực để xoá đói, giảm nghèo và tiến tới phát triển bền vững kinh tế - xã hội miền núi, vùng sâu, vùng xa. Việc chuyển một bộ phận đất chuyên trồng lúa cho mục đích phát triển công nghiệp và dịch vụ chƣa đƣợc cân nhắc một cách tổng thể đang là vấn đề cần chấn chỉnh.
Cần cân nhắc hiệu quả đầu tƣ cả về hiệu quả kinh tế lẫn xã hội và môi trƣờng, khuyến khích đầu tƣ hạ tầng cơ sở để chuyển đất nông nghiệp kém hiệu quả sang sử dụng vào mục đích phi nông nghiệp, hạn chế việc tận dụng hạ tầng hiện có tại các vùng đất nông nghiệp có năng xuất cao để đầu tƣ phát triển công nghiệp và dịch vụ. Việc thu hồi đất, bồi thƣờng, hỗ trợ, tái định cƣ để thực hiện các dự án đầu tƣ phi nông nghiệp chƣa giải quyết đƣợc quyền lợi, việc làm, ổn định tại khu vực nông thôn. Nhiều nơi trao cho ngƣời nông dân tiền bồi thƣờng, hỗ trợ về đất khá cao nhƣng không định hƣớng đƣợc phƣơng thức sử dụng nên đã dẫn đến tình trạng tiêu cực trong sử dụng. - Đối với đất phi nông nghiệp: Đất dành cho đầu tƣ hạ tầng kỹ thuật chƣa thực sự đƣợc chú ý trong quy hoạch dài hạn.
Đặc biệt, đầu tƣ hạ tầng cho khu vực nông thôn còn thiếu nên chƣa bảo đảm điều kiện để giải quyết xoá đói, giảm nghèo thực sự cho ngƣời nông dân. Vấn đề đất ở, nhà ở đang là khâu yếu và có nhiều vƣớng mắc hiện nay, đặc biệt là nạn đầu cơ đất ở, đất dự án nhà ở kéo dài trong nhiều năm, mặc dù gần đây đã đƣợc chấn chỉnh nhƣng hậu quả để lại khá nặng nề, nhất là giá đất vẫn còn ở mức cao làm hạn chế những cố gắng về nhà ở, đất ở. Quỹ đất dành cho xã hội hoá các lĩnh vực giáo dục - đào tạo, y tế, văn hoá, thể dục - thể thao chƣa đƣợc quy hoạch đầy đủ, chƣa thực hiện đúng các chính sách ƣu đãi về đất cho các nhà đầu tƣ thuộc các lĩnh vực này.